Hội Văn học Nghệ thuật VN tại LB Nga http://nguoibanduong.net

Châu Hồng Thuỷ: Mồng Tám tháng Ba (Truyện ngắn)
07.03.2009 22:54


Trong lúc chọn hoa, tôi hình dung ra bộ mặt rạng rỡ của Ngọc Anh, vợ của Cư, và của Olia, khi tôi và Đạt đến tặng hoa. Chợt, bộ mặt buồn thiu của thiếu phụ ban sáng cũng hiện lên, tự dưng tôi thấy bần thần trong dạ. Giá như buổi sáng, mình cứ quyết không nghe lời Đạt, thì hôm nay sẽ là một ngày vui trọn vẹn.

Chuông đồng hồ réo chói tai. Tôi hé mắt nhìn: Mới có bốn giờ.
 
Mùa Đông ở Nga, 8 giờ sáng, trời vẫn tối mò. Thế nào mà lão Đạt đặt chuông bắt tôi dậy lúc 4 giờ. Tưởng lão không nghe thấy chuông, tôi đánh bài lỳ, kéo chăn định ngủ rốn thêm chút nữa.

- Dậy! Dậy mau! - Đạt kéo chăn, lôi tôi ra khỏi giường - Đi nhanh kẻo hết chỗ. Hôm nay hết chỗ thì nghỉ xơi.
 
Hóa ra tai lão rất thính. Mà không có chuông, lão vẫn quen thức giấc lúc này. Ngáp đến sái quai hàm, tôi vã nước lạnh vào mặt cho tỉnh ngủ, rồi mặc quần áo đi "tranh chỗ".
 
Trời mờ mịt tối. Nhờ có tuyết trắng ánh lên, tôi mới nhận ra đường. Đêm qua tuyết rơi dày. Giờ này máy xúc tuyết chưa làm việc. Xe khách cũng chưa chạy. Tôi phải lội bộ ra chợ. Đôi ủng của tôi thụt sâu trong tuyết hơn một gang tay, mỗi bước đi một bước khó nhọc. Cũng may, chợ chỉ cách chỗ chúng tôi gần một cây số. Gió quất tuyết vào mặt lạnh buốt. Ấy là tôi đã trùm mũ len kín mít, chỉ để hở hai con mắt, lại chụp thêm chiếc mũ lông rái cá bên ngoài. Buốt đến tức thở. Đêm qua, đài báo âm mười lăm độ. Vừa đi, tôi vừa nghĩ cám cảnh cho mình, lại thương Đạt sáng nào cũng phải ra chợ giờ này. Còn tôi, lần đầu tiên dậy sớm.

Tưởng mình dậy sớm, đến nơi, tôi đã thấy mấy anh chị đồng hương người Việt đang nhặt gỗ vụn, xé mảnh bìa các-tông nhóm lửa sưởi. Các bao xác rắn, bao ni-lông đã trải gần kín cả dãy dài. Những người đi sớm, vừa nhận chỗ cho mình, vừa xí chỗ cho người quen. Hôm sau, người quen ấy lại thay phiên đi sớm, xí chỗ hộ. Có người không đi chợ bán hàng, chỉ ra sớm trải bao tải xí chỗ, sáng ra bán lại chỗ cho người đi muộn, rồi về ngủ bù.

Tôi lặng lẽ trải bao của mình xuống nền tuyết, chặn bốn hòn đá lên bốn góc để gió khỏi thổi bay, rồi ra nhập bọn với đám người đang đốt lửa chờ trời sáng
 
***
 Nước Nga mấy chục năm rồi không có chợ, nếu có cái gọi là chợ, cũng chỉ lèo tèo mấy cái "chợ nông trang", ở đó những người nông dân đem bán mấy củ khoai tây, cà chua, bắp cải trồng trên đất vườn nhà, gọi là sản phầm thừa. Còn lại, muốn mua từ cái kim sợi chỉ đến máy cày, đều phải vào cửa hàng bách hóa quốc doanh, do nhà nước độc quyền quản lý. Cuối năm 1990, mỗi đứa chúng tôi sang Nga chỉ được phép mang theo hai cái quần bò, dăm cái áo phông Cá Sấu, vài lố son Thái dởm, bán đi cũng được "nửa thùng hàng" về nước. Thế mà đến năm 1992, chẳng hiểu từ đâu, hàng hóa ra nhiều thế. Các chợ "Mết" mọc lên như nấm một cách tự phát. Cứ ở đâu có Mết, (tức metro - tàu điện ngầm) đông người qua lại, là có chợ. Người ta trải bao tải xuống nền đất trống, mở túi xách ra bày hàng lên là thành chợ. Người nào có ít thì cầm cái quần bò, hay vắt cái khăn quàng trên tay, đứng chào mời người qua lại. Như thế cũng tiện, nhác thấy bóng công an là biến cho nhanh.
 
Chợ của chúng tôi không phải chạy công an. Nó có từ thời Liên Xô chưa tan vỡ, chuyên bán thực phẩm, rau quả, gọi là chợ Moscovareskaia (Chợ Sông Mátxcơva) gần metro Kakhovxcaia. Nhóm dân Việt Nam thời hậu Hợp tác lao động, rời nhà máy, kéo về đây, tự dưng hình thành một dãy chợ vải. Sáng nào cũng có một người Việt Nam đại diện đi thu mỗi người mười rúp (tiền cũ), gọi là "tiền chỗ". Thế là ung dung đứng cả ngày, dù giấy tờ có "lởm khởm" đi chăng nữa, cũng chẳng sợ công an sờ đến.
 
Cả tôi, cả Đạt đều không phải dân đi chợ chuyên nghiệp. Hắn là nghiên cứu sinh của Viện hàn lâm khoa học giáo dục, ở nhà là tay luyện thi toán có tiếng. Vừa thi xong phần "tối thiểu", tiếng Nga và Triết học, giờ hắn chỉ có việc ngồi nhà làm luận án. Mỗi tháng, hắn chỉ gặp thầy hướng dẫn một lần, nhờ sửa giúp những chương đã viết cho đúng văn phong khoa học của Nga. Cả tôi và hắn đều là kẻ gặp may, sang Nga năm 1990, năm cuối cùng được đi theo diện bao cấp, vừa không phải trả tiền, lại còn được học bổng. Nhưng, nước Nga đang khủng hoảng, tiền học bổng như "giấy bồi", không đủ sống. Năm đầu, tôi phải học tiếng Nga ở khoa dự bị trường Lomonoxov, học bổng chỉ được 60 rúp. Năm 1991, là học viên chính thức của trường Gorki, mới được lĩnh tiêu chuẩn 90 rúp, rồi thêm tiền bù trượt giá, tổng cộng là 160 rúp, tiền có khá hơn một chút, nhưng cũng chẳng đủ tiêu. Hắn rủ tôi đi chợ. Bùi tai, tôi đi theo hắn.
 
Ốp (Ký túc xá) của Đạt gần chợ. Tuần nào cũng vậy, cứ chiều thứ Sáu, sau khi tan học, tôi sang ốp Đạt ngủ lại để đi chợ ngày thứ Bảy và Chủ nhật. Dịp nghỉ đông, nghỉ hè, tôi ở luôn ốp của hắn trong cả tháng.

 ***

Chiều qua, tôi và Đạt sang "Đôm 5 mới" lấy hàng để sáng nay đi chợ. Khu "Đôm 5 mới" của ông Ngọ gồm hai dãy nhà 9 tầng nằm ở phố Aminhevxkaia, có hơn một nghìn phòng bán hàng vải của toàn người Việt. Không có vốn, chúng tôi đi lấy hàng "xu khôi" của người quen. Các "chủ hàng" lớn cho các "chủ phòng" "xu khôi". Các chủ phòng lại cho chúng tôi, những người đi chợ Mết "xu khôi" thêm tầng nữa. Không biết ai là người Việt Nam đầu tiên dùng từ "xu khôi" trong giao dịch hàng hóa. Mua hàng trả tiền ngay, gọi là trả tiền "tươi". Đến nhận hàng chịu, hôm sau bán được bao nhiêu, đến thanh toán cho chủ bấy nhiêu, gọi là hàng "xu khôi". Tiếng Nga "xu khôi" nghĩa là "khô", ngược với tiền "tươi". "Xu khôi" là hình thức cả hai bên chịu ơn lẫn nhau. Những cũng có người sạt nghiệp, bởi khách "xu khôi" "bùng" nợ.

Từ "Đôm 5 mới" ra đến đường cái khá xa. Tôi và Đạt lấy đầy hai túi ba tầng vừa quần bò, váy áo ngủ và áo gió, chất lên xe, một thằng đẩy, một thằng kéo. Phải vượt qua bãi tuyết trắng mênh mông, lại vừa lên dốc. Cứ khoảng trăm mét, hai thằng dừng lại để thở. Đạt bảo tôi:

- Hai đứa mình, một thằng sắp thành phó tiến sĩ, một thằng là nhà văn, kéo xe hàng trên tuyết chẳng khác gì hai con chó Bắc Cực. Mai sau mày nhớ ghi lại cho con cháu nó đọc.

Tôi bảo hắn:

- Tao lớ ngớ không nói làm gì. Còn mày có khả năng buôn bán tốt, sao không bỏ quách học hành, đi buôn cho xong. Biết đâu sẽ thành ông chủ lớn. Tao thấy mấy thằng ở bên Viện hàn lâm, quanh năm suốt tháng trên tàu sang Ba Lan, sang Thổ đánh hàng mà vẫn có bằng phó tiến sĩ, tiến sĩ hẳn hoi. Còn mấy thằng bụng đầy chữ, không biết buôn hàng hóa thì mở dịch vụ viết thuê luận án phó tiến sĩ, thậm chí cả tiến sĩ. Mày có cần, tao giới thiệu cho. Về nước, vừa có tiền, vừa có bằng, ai biết đâu bằng thật hay giả.

Đạt trừng mắt:

- Mày nói thế mà được à? Mục đích của tao là phải có cái bằng phó tiến sĩ, rồi tiến sĩ do chính tay tao viết. Tiền, với tao chỉ là phương tiện để có năng lượng ngồi viết. Còn nếu đi buôn thật sự, tao thừa sức thành chủ lớn. Mày không nhớ, cả ông bà nội ngoại tao đều là tư sản Hà Nội gốc à. Tao có trong người cái gien buôn bán đấy. Nhưng tao nghĩ, sau cải tạo tư sản, ông bà tao cũng trắng tay. Tiền bạc nó phù du lắm.
 
Quả thực, Đạt có gien buôn bán. Từ khâu chọn hàng gì bán chạy, giá cả bao nhiêu, ký nợ, thanh toán với các chủ hàng, lời lãi bao nhiêu, hắn làm tất tật. Hắn bảo chỉ cần đi chợ thứ Bảy, Chủ nhật cho nhẹ người. Chớ tham tiền nhiều, dính vào hàng hóa quay vòng là không gỡ ra được, mất toi sự nghiệp.
 
***
 Xưa nay, bao giờ Đạt cũng dậy sớm đi nhận chỗ. Hắn ưu tiên cho tôi ngủ đến 7 giờ sáng, kéo xe hàng lên xe buýt, đến chợ bày hàng ra, cũng vừa giờ khách đến mua. Sáng nay tôi phải đi thay hắn, bởi cả đêm qua hắn hì hụi cắt dán, trang trí phòng Câu lạc bộ của Viện để tối nay liên hoan mừng mồng 8 tháng 3 cho chị em trong ốp.
 
Người "mở hàng" cho chúng tôi hôm nay là một thiếu phụ Nga, bụng mang bầu to tướng.

Tôi ngỡ ngàng nhìn chị. Đã mấy năm ở Nga, tôi chưa bao giờ gặp phụ nữ bụng chửa ngoài đường phố. Hồi đầu mới sang, tôi nghĩ, có lẽ phụ nữ Nga có thai ngại ra đường vì ngượng, hoặc họ sợ mất mĩ quan thành phố. Tôi đem điều này nói với bà giáo. Bà cười, bảo: Không phải thế. Người Nga bây giờ lười đẻ, ngại nuôi con, nên cậu không mấy khi gặp ai to bụng. Hàng năm, số người chết nhiều hơn số được sinh. Bởi thế, dân số ngày càng giảm. Một đất nước mênh mông chiếm 1 phần 6 quả địa cầu, mà dân số chỉ có hơn trăm triệu. Chính phủ Nga lo ngại điều này, hô hào khuyến khích mà chẳng ai chịu đẻ.
 
Vốn nhanh mồm nhanh miệng, tôi vồn vã mời khách:

- Chào chị! Chúc chị một buổi sáng tốt lành.

- Chào anh! Chúc anh bán hàng đắt khách. Thiếu phụ trả lời, giọng trong trẻo.
Điệu này là vào cầu đây, tôi nghĩ bụng, tán luôn:

- Phải chăng chị muốn mua bộ váy áo ngủ. Chúng tôi có bộ bằng lụa rất mịn của Thổ đây, mời chị xem.

Người phụ nữ ngạc nhiên:

- Sao anh biết tôi cần bộ váy áo ngủ?

- Nhìn chị là tôi biết! Này nhé, chị đang có thai, không thể mặc được quần bò, áo thun hay áo sơ mi cỡ thường. Đi chợ, chị ghé vào dãy hàng vải, lại đến đúng quầy của tôi, chắc chỉ chọn bộ đồ ngủ, vừa rộng, lại vừa trang nhã.

- Anh nói như thánh sống - Thiếu phụ cười - Bộ đồ ngủ này bao nhiêu tiền?

- Chị là người mở hàng, tôi chỉ lấy giá gốc thôi.

Nghe tôi phát giá, thiếu phụ mở ví lần đếm tiền.

- Tôi không đủ số tiền ấy. Hay anh bớt cho tôi hai chục.

- Chị ơi, bớt cho chị hai chục thì tôi lỗ vốn - Tôi thành thật bảo chị - Chị là người mở hàng, nên tôi nói đúng giá gốc đấy.

- Không giấu gì anh, tôi chỉ còn đúng chừng này tiền - Chị giơ ví cho tôi xem cả hai ngăn - Anh bớt cho tôi đi. Hôm nay là ngày mồng 8 tháng 3, chả lẽ anh không bớt được sao? Nếu có thiệt hai chục, anh lấy lãi ở những chỗ khác bù vào được cơ mà.
 
Từ nãy đến giờ, Đạt vẫn đứng lặng im xem tôi mời chào. Tôi quay sang Đạt:

- Hay là bán cho chị ấy.

- Không bán được. Bán thế thì có mà ăn cám!
 
Vốn xưa nay việc gì cũng do Đạt quyết, tôi đành phải nghe.

- Chị thông cảm. Với giá ấy chúng tôi không thể bán - Tôi trả lời chị.

Thiếu phụ bỏ đi, mặt buồn rười rượi. Quay sang Đạt, tôi trách:

- Tớ áy náy quá. Chị ta nói hôm nay là mồng 8 tháng 3 mà mình không chịu bán. Giá kể...

- Kể kể cái gì - Đạt cáu - Không phải tớ tiếc hai chục, mà là xúi quẩy. Ra ngõ gặp bà chửa đã là xúi quẩy rồi. Bà chửa lại "xông hàng" cho mình còn xúi nữa. Ngày hôm nay coi như là toi. Mày đưa bật lửa đây, tao đốt vía giải xui.

Vừa nói đến đấy, bỗng mặt Đạt biến sắc, tái đi. Hắn lắp bắp:

- Mày đứng trông hàng nhé. Tao... Tao đi đằng này một chút.

Vội vã, Đạt lẫn vào đám đông rất nhanh. Tôi ngơ ngác không hiểu tại sao hắn có thái độ kỳ lạ như vậy. Mãi gần tiếng sau mới thấy hắn quay trở lại.

- Hú hồn hú vía - Đạt nói - May mà tao phát hiện sớm.

- Phát hiện cái gì? Tôi ngớ người, hỏi.

- Bà giáo tao chứ còn ai nữa. Nhác thấy bà ấy đi đến đầu dãy, tao chuồn ngay. Bà ấy gặp tao đứng chợ, có nước tao phải chui xuống lỗ nẻ. Bây giờ tao mới nhớ, phố của bà ấy ở gần chợ này. Tao theo dõi, thấy bà ấy ra khỏi chợ rồi, mới dám quay lại đây. Thật là xúi quẩy.

Tôi không mê tín. Nhưng quả tình hôm ấy chúng tôi bán rất đuội. Dự định hôm nay sẽ trích tiền lại để mua hoa tặng chị em thế là hỏng. Tôi xưa nay có tiếng là ga-lăng, không thể không tặng hoa, đành phải lấy vào vốn gốc, mua hoa vậy. Ít nhất phải hai bó. Tối hôm qua, Cư, chồng Ngọc Anh,  đã bảo trước:

-Tớ cứ là thực dụng. Mai tớ sẽ mua thức ăn tươi về đãi vợ, thế là tớ cũng được ăn. Cậu ga-lăng thì mua hoa cho vợ tớ.
 
Lại còn Olia, cô bạn cạnh phòng Đạt nữa. Lần nào đến chơi, tôi cũng tranh thủ nhờ cô giải thích cho tôi hiểu thêm Văn học Nga cổ điển. Không hiểu Olia thích hoa gì? Tôi bảo Đạt:

- Cậu dọn hàng đi! Tớ chạy đi mua hoa rồi về cho sớm.

Trong lúc chọn hoa, tôi hình dung ra bộ mặt rạng rỡ của Ngọc Anh, vợ của Cư, và của Olia, khi tôi và Đạt đến tặng hoa. Chợt, bộ mặt buồn thiu của thiếu phụ ban sáng cũng hiện lên, tự dưng tôi thấy bần thần trong dạ. Giá như buổi sáng, mình cứ quyết không nghe lời Đạt, thì hôm nay sẽ là một ngày vui trọn vẹn.
 
Nửa tiếng sau, tôi mới chọn được hai bó hoa ưng ý. Đạt đã thu dọn xong hàng, đứng chờ tôi. Thấy bộ mặt bần thần của tôi, hắn hỏi:

- Mày làm sao thế?

Tự dưng tôi nổi quạu:

- Sao à? Tất cả là tại mày.

Rồi tôi bực bội kể tội hắn, bảo hắn là thằng ích kỷ, là thằng... là thằng... Hắn không ngạc nhiên, không cãi. Lúc sau, khi tôi đã hả cơn tức, hắn trầm giọng bảo:

- Mày tưởng mình mày mới có tình người chăng? Mày tưởng tao là gỗ đá chăng? Mày có biết không, sau khi bà giáo đi rồi, tao chợt nghĩ phải đi tìm người đàn bà chửa ấy, gọi chị ta lại, bán rẻ cho chiếc áo, thậm chí tặng hẳn cũng không sao. Nhưng tìm mãi không thấy. Tao sỉ vả mình là thằng ti tiện. Không phải chỉ vì mê tín sợ xúi quẩy khi gặp bà chửa xông hàng. Cái đó chỉ là ngụy biện. Cái chất tiểu thương, chất con buôn cò con, có từ trong máu, trong tiềm thức của tao từ thời ông bà lúc ấy nó thức dậy, tao sợ mất lãi, sợ thiệt mất mấy chục, nên mới không cho mày bán cho người đàn bà ấy. Thế mà nhiều lúc tao vẫn tuyên bố với mày là tao coi thường đồng tiền. Tao không giả dối đâu. Lúc ấy tao thật lòng. Lúc ấy tao cao thượng. Nhưng cái chất ích kỷ nhỏ mọn... có trong tao, có trong mày, nó ẩn dấu đâu đó, gặp được đất là nó nảy mầm, sinh sôi đấy. Ngày hôm nay tao đã tước đi niềm hạnh phúc nhỏ nhoi của một người đàn bà. Hạnh phúc ấy có gì cao xa, chỉ là một bộ váy áo ngủ. Thế mà chị ấy không đủ tiền mua. Chắc chị ta nghèo lắm. Thế rồi tao lại biện hộ cho mình. Nghèo, nhưng chị ta còn sướng chán so với vợ con mình. Này nhé, chị ta có chồng con bên cạnh (bằng chứng là chị ta đang mang bầu). Trong khi đó vợ mình có chồng đang ở xa biền biệt, ngày mồng 8 tháng 3 chẳng có ai đến tặng hoa. Còn chị ta, nghèo, nhưng ít nhất cũng đang có căn hộ ở thủ đô Matxcơva, không căn hộ hai phòng thì cũng được một phòng, có toa-lét, có nhà bếp, bồn tắm đầy đủ. Vợ con mình thì đang chui rúc trong gian nhà dột nát của khu tập thể ổ chuột. Bản thân tao với mày là trí thức, chưa rõ mặt người đã phải ra tranh chỗ, phải dầm chân trong gió tuyết kiếm vài đồng bọ để mưu sinh. Thế thì việc gì phải thương vay khóc mướn cho bận vào thân. Nghĩ đến đấy, ngỡ như mình vừa trút đi được gánh nặng ngàn cân. Nhưng lại có một thằng khác trong tao phản bác: Tại sao chị ta bụng chửa lại đi chợ một mình, giữa băng tuyết thế này, không có ai đi kèm. Bất cứ một người chồng nào cũng không thể để cho vợ đi như thế. Băng tuyết trơn, ngã một cái là hỏng. Hay là chị ta vào dạng nhẹ dạ bị lừa, tay đàn ông khốn nạn nào đó đã cao chạy xa bay. Hay là chồng chị ấy là lính từ Afganixtan trở về, bị cụt chân không đưa vợ đi chợ được. Ngày hôm nay, chị phải tự đi mua quà tặng cho mình. Biết đâu, biết đâu... Từ sáng đến giờ, bao cái biết đâu cứ dày vò tao. Mày tưởng tao là gỗ đá à?...
 
Đứng giữa chợ, dưới trời tuyết lạnh âm 15 độ, thằng bạn tôi trút lòng mình cứ như đang độc thoại. Ôi, thằng bạn của tôi. Nhìn đôi mắt rưng rưng của nó, tôi thấy lòng ấm lại.
 
Hôm ấy là ngày mồng 8 tháng 3 năm 1993. Từ ấy đến nay, đã bảy năm rồi, tôi vẫn còn nhớ mãi.
 
Mátxcơva 12 giờ đêm 1.11.2000

C.H.T

In lần đầu trên Tạp chí Người Bạn Đường số 13/2001

In lại trong tập truyện ngắn "Vị mặn hoa Tử huyền", NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2008



URL của bản tin này::http://nguoibanduong.net/index.php?nv=News&at=article&sid=3435

© Hội Văn học Nghệ thuật VN tại LB Nga contact: info@nguoibanduong.net