Tin tức  |  Diễn đàn  |  Thư viện hình  |  Liên hệ
Thứ hai,
25.10.2021 09:59 GMT+7
 
 
Kho bài viết
Tháng Mười 2021
T2T3T4T5T6T7CN
        1 2 3
4 5 6 7 8 9 10
11 12 13 14 15 16 17
18 19 20 21 22 23 24
25 26 27 28 29 30 31
 <  > 
Nhận thư điện tử
Email của bạn

Định dạng

Thành viên online
Thành viên: 0
Khách: 3
Số truy cập: 1445738
Tin tức > Trang Văn trong nước > Xem nội dung bản tin
NGUYÊN NGỌC: HOÀ BÌNH KHÓ NHỌC - PHẦN 1
[17.06.2019 20:29]
Công bố lần đầu tiên môt chương hồi ký của nhà văn Nguyên Ngọc

Đôi lời cùng bạn đọc

Diễn Đàn xin đăng dưới đây, lần đầu tiên, toàn văn một chương hồi ký của nhà văn Nguyên Ngọc. Bắt đầu từ năm 1978, khi ông được cử làm Phó tổng thư ký Hội nhà văn Việt Nam, Bí thư Đảng đoàn Hội nhà văn, viết bản "Đề dẫn" đọc trước hội nghị đảng viên – bản "đề dẫn" cho đến nay chưa hề được công bố ở trong nước, và đã gây sóng gió một thời – chương hồi ký kết thúc ở thời điểm cuối năm 1988, khi tác giả phải chấm dứt công việc Tổng biên tập báo Văn Nghệ – độc giả còn nhớ mãi những số báo Văn Nghệ "thời Nguyên Ngọc".

Tôi được gặp Nguyên Ngọc, lần đầu tiên, vào mùa hè 1981, tại trụ sở "phía nam" của báo Văn Nghệ, 43 Đồng Khởi, Sài Gòn. Đến thăm nhà thơ Nguyễn Duy, như mọi lần, và lần này tình cờ được gặp tác giả "Đất nước đứng lên", "Đường chúng ta đi", "Đất Quảng I", và tác giả "Con trâu" (nhà văn Nguyễn Văn Bổng) vừa từ Hà Nội vào.

Không cần nhắc, mọi người đều nhớ tình hình Việt Nam khó khăn ra sao vào đầu thập niên 80 (chiến tranh Campuchia, Trung Quốc tiếp tục bắn phá ở biên giới sau khi thất bại trong cuộc chiến "dạy cho Việt Nam một bài học" 1979, Mỹ cấm vận, thuyền nhân, kinh tế khủng hoảng..). Làm báo Việt kiều, tôi càng lo lắng thêm khi đọc bài viết của nhà thơ Chế Lan Viên (hình như dưới một bút hiệu khác, nhưng dễ nhận ra văn phong tác giả) lên án một đường lối văn nghệ "chống Đảng" thể hiện qua một bản "đề dẫn" (không nói tên ai viết) và bài viết nhà phê bình Hoàng Ngọc Hiến về "văn học phải đạo". Giọng điệu của họ Chế khiến tôi tự hỏi : sẽ có chăng một vụ Nhân vân Giai phẩm ? rồi hậu quả sẽ ghê gớm đến đâu ?

Chính vì nỗi lo ấy, mà ngay phút đầu, hai anh vừa ở Hà Nội vào, tôi vừa chân ướt chân ráo từ Paris về, tôi đành liều hỏi thẳng thừng : chuyện gì đang xảy ra ở Hội nhà văn, tại sao anh Chế Lan Viên viết như vậy ? Điều khá bất ngờ, là gần như ngay tức khắc, anh Nguyên Ngọc đã trả lời không tránh né, tuy ngắn gọn, nhưng đủ để tối hiểu bản chất vấn đề. Năm sau, tôi bị cấm cửa, mãi mùa thu 2001 mới có visa về nước. Ở Hà Nội, đến thăm anh Nguyễn Văn Bổng. Nhắc lại cuộc gặp trước, hè 1981, anh Bổng mỉm cười, nói sau đó Nguyên Ngọc nói với anh, câu hỏi thật bất ngờ, lại đến từ một người chưa quen biết, từ xa về, nhưng anh ấy đã quyết định trả lời thẳng thắn. Quan hệ giữa chúng tôi đã bắt đầu từ cuộc hỏi thẳng thừng, đáp thẳng thắn như thế. Từ đó là gần ba mươi năm. Những năm đổi mới, báo Văn Nghệ khởi sắc, tôi vẫn bị cấm cửa, nên chỉ trao đổi với anh bằng những dòng thư ngắn. Sau này, ở Paris, hay trên đường xe hơi chở anh sang dự hội thảo hè ở Munich, hay chuyến đi thăm Đà Nẵng, Tam Kỳ, được anh dẫn đi ăn mì Quảng, tôi có thời gian trò chuyện với anh, nhưng chủ yếu chỉ nói chuyện hiện tại, chuyện dự án (anh dự định mở Trường đại học Phan Châu Trinh ở Hội An, rồi lập Quỹ văn hoá Phan Châu Trinh...). Tôi không hỏi anh về thời gian 1978-99 ở Hội nhà văn, có lẽ chỉ vì muốn tiết kiệm thời giờ. Khi có dịp nói về quá khứ, tôi thường hỏi anh về Khu V thời kháng chiến chín năm và thời đánh Mỹ vì đó là địa điểm và thời điểm tôi ít hiểu biết... Còn một lẽ nữa, là khoảng giữa thập niên 90, một người bạn thân của anh ghé qua Pháp, đã cho tôi một bản chụp bản thảo chương hồi ký Hoà Bình Khó Khăn, với điều kiện "chỉ để anh đọc, không đưa ai, không nói với ai".

Quen làm báo, tuân thủ nguyên tắc bảo vệ nguồn tin, tôi giữ đúng lời hứa, đọc xong cất kỹ. Kỹ tới mức đôi khi muốn đọc lại mà tìm không ra. Vừa qua, đi xem phim Trang giấy trằng của đạo diễn Hồ Quang Minh, trong cuộc thảo luận của câu lạc bộ YĐA xoáy quanh tình hình Campuchia dưới thời Pôn Pốt, tôi chợt nhớ tới những trang viết của Nguyên Ngọc về chuyến đi "quyết định" của anh năm 1979 ở Campuchia, và hứa với các bạn, tôi đang dọn nhà, cho mấy ngàn cuốn sách vào thùng để tặng các thư viện, sẽ cố tìm lại tập hồi ký Nguyên Ngọc và xin phép công bố.

May thay, năm ngày sau, mở ra thùng các-tông gần chót trong phòng, tôi tìm ra 35 trang ấy. Sau một đêm đọc lại, tôi viết ngay thư cho tác giả, đề nghị, nếu anh không tính đợi khi hoàn thành hồi ký mới công bố, thì thiết tha mong anh cho công bố ngay tập bản thảo, mà chủ đề là câu chuyện văn học và không khí chính trị Việt Nam cách đây vừa đúng 40 - 30 năm ; và nếu anh dành cho Diễn Đàn vinh dự ấy, thì tôi sẽ xung phong làm "cậu đánh máy" vì thấy có khả năng "giải mã" mấy chục trang viết tay "xấu như đơn thuốc bác sĩ" của anh.

Dưới đây là toàn văn chương hồi ký ấy của nhà văn Nguyên Ngọc. Nó đã được tác giả kiểm lại, không thay đổi, chỉ thêm một đoạn (chữ nghiêng) để giữ mạch lạc giữa hai phần của chương sách.

Diễn Đàn trân trọng giới thiệu với bạn đọc. Cùng với lời cảm ơn tác giả, chúng tôi mong nhà văn Nguyên Ngọc sớm hoàn thành tập hồi ký chứng từ quý báu này.

Nguyễn Ngọc Giao
15.6.2019

HÒA BÌNH KHÓ NHỌC (KỲ 1)

Nguyên Ngọc

Giữa năm 1978, từ chiến trường miền Nam ra và đang ở 4 Lý Nam Đế 1, tôi được quân đội gửi đi học trường Nguyễn Ái Quốc. Học chưa xong, lại có lệnh gọi về : Ban bí thư Trung ương Đảng vừa quyết định thành lập Đảng đoàn Hội nhà văn Việt Nam. Đảng đoàn gồm chín người : Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài, Chế Lan Viên, Hoàng Trung Thông, Nông Quốc Chấn, Giang Nam, Nguyễn Khải, Anh Đức và tôi. Tôi được chỉ định làm bí thư. Để tiện công việc, một Hội nghị Ban chấp hành Hội Nhà văn bổ sung tôi làm phó tổng thư ký Hội (hội nghị là hình thức thôi, ai cũng biết). Tổng thư ký : Nguyễn Đình Thi. Một phó tổng thư ký nữa : Tô Hoài. Theo chỗ tôi biết, tất cả là do ông Tố Hữu xếp đặt. Ý định khá rõ : tạo một ê-kíp lãnh đạo mới, trẻ, đồng thời bảo đảm “ có sự kế tục ” – đường lối cán bộ của ta trước nay vẫn thế.

Tôi còn giữ được một chiếc ảnh chụp ở ghế đá trước sân Hội, 65 Nguyễn Du, dịp Đảng đoàn họp phiên đầu tiên. Trong ảnh vắng Tô Hoài và Hoàng Trung Thông. Tô Hoài lỉnh đi đâu đó, tính anh vẫn thế. Còn Hoàng Trung Thông thì chắc chắn là đi uống rượu.


Nhìn ảnh tôi kinh ngạc: ngày ấy, 1978-79, tôi vẫn còn trẻ thế. Sau mười mấy năm chiến trường miền Nam trông tôi vẫn còn rất thư sinh, nho nhã, trán chưa một nếp nhăn, tóc đen tuyền, hơi gầy, và có vẻ vô tư… Ra hòa bình, và cuộc vật lộn trong cái hòa bình đó lại làm mình già đi nhanh gấp mấy lần chiến tranh. Cũng phải thôi. Gập ghềnh, ác liệt hơn nhiều…

… Mấy năm sau 1975, tôi vẫn chưa viết được gì. Văn nghệ Quân đội tung một số anh em đi các chiến trường cũ, viết về cuộc đại thắng 75. Nguyễn Khải viết Tháng ba Tây Nguyên, Xuân Thiều Mùa mai đỏ, Hữu Mai, Hồ Phương, Nam Hà, Nguyễn Trọng Oánh… đều có sách. Riêng tôi, đi rồi về tay không. Đất Quảng tập II, tập III viết rồi lại xé. Rồi lại viết, lại xé. Lại viết, lại xé.

Con gái tôi bắt đầu học chuyên Toán, bảo :

- Bố cứ viết thật nhiều đi, để con có giấy làm nháp toán. Mẹ nó mắng :
- Hỗn !

Nhưng cô ấy mừng : con bé hóm, tức là thông minh. Cô vẫn lo nó bị ảnh hưởng chất độc hóa học của bố mẹ, trí óc phát triển không bình thường.

Hồi 1971-72 ở chiến trường tôi không viết tiếp được Đất Quảng vì bị Giả của tôi đâm một phát đúng tim 2, choáng váng. Bây giờ không phải thế nữa. Không thể đổ lỗi cho nhân vật nữa. Vết thương cũ đã nguôi ngoai.

Hàng nghìn trang bản thảo bị xé vì cầm bút lên, lại… Đường chúng ta đi 3 ! Quán tính rất mạnh. Tôi muốn cưỡng lại. Cưỡng không nổi. Muốn viết khác, biết phải viết khác. Nhưng khác thế nào ? Chưa biết.

Những ngày ấy, chắc chẳng ai ngờ, tôi thành một kẻ thất nghiệp hoàn toàn. Ngày ngày lao vào làm đủ thứ công việc eo sèo của một cặp vợ chồng son ngơ ngác và vụng về. Giặt giũ quần áo cho vợ cho con, bốn giờ sáng đã dậy, hối hả chạy ra cửa hàng Đặng Dung chen lấn với mấy bà nội trợ và một lô bà phục vụ của các ông to giành giật xếp cho được một hòn gạch để chen lấy chỗ mua cho vợ được một cái chân giò, một lạng thịt nạc. Lại chen chúc đi đong gạo, mua dầu, mua cá biển đầy xương là xương và ướp đá lạnh ngắt từ Hải Phòng chở lên. Chen chúc, cả chửi bới nữa, van xin, lạy lục nữa cũng có để xin cho được một cái phiếu sữa, một phiếu đậu phụ… Rồi nấu nướng. Rồi bế con đi nhà trẻ. Rồi dẫn con đi mẫu giáo. Rồi lo cho con vào cấp I, vào chuyên toán… Bận rộn, tíu tít, cố mà bận rộn, mà tíu tít, tự đánh lừa mình và đánh lừa bạn bè… để khỏi phải ngồi vào bàn, đối mặt với trang giấy trắng, khỏi phải viết. Bởi vì biết viết thế nào ? Bí rị. Chữ viết ra cứ nằm bẹp trên mặt giấy, chết khô, chán ngán !

Thật ra, cố mà bận rộn vẫn không hết được thì giờ. Vẫn cứ rảnh rỗi một cách xấu hổ, đau đớn. Tôi lêu lổng khắp các phố, nhiều đêm lang thang ngắm các cô gái Hà Nội mới lớn lên, đẹp không chịu được mà nói tục cũng không chịu được. Lêu lổng như một thằng ma-cà-bông vô nghề nghiệp, vô tích sự. Nửa đêm mới về. Vợ tôi không bao giờ nghi chồng. Cô chỉ lo :

- Sao anh về khuya thế ?
- Anh đi có việc.
- Thôi anh nằm xuống đây, nhè nhẹ cho con ngủ. Anh sờ trán xem, hình như nó hơi ấm.

Tôi không dám nói với vợ cái điều ghê gớm này : tôi là một thằng bất tài.

Anh có biết cái cảm giác ấy không ? Anh cầm bút mấy chục năm trời, anh có tác phẩm, có danh tiếng, sách được đưa cả vào chương trình nhà trường, trung học, đại học, sinh viên làm cả luận văn về anh, các thầy ra rả giảng dạy về anh…, vậy rồi đến một lúc, tự anh, anh mới nhận ra : có lẽ nhầm đường, nhầm nghề mất rồi. Tất cả những cái đã qua chỉ là tình cờ, ngẫu nhiên, chó ngáp phải ruồi, chứ thật sự anh chẳng có tài cán gì ráo. Anh không thể, không phải là nhà văn.

Nhà văn sao chẳng viết được gì, chẳng biết viết gì cả. Nhiều bạn bè rất thân bảo tôi :
- Mày cầu toàn bỏ mẹ. Cứ viết bừa đi. Có cái hay cái dở là chuyện thường. Viết đi.
Vốn sống đầy ắp ra đấy. Cầu toàn !

Lời trách nghe rất sang trọng. Tôi im lặng, một cách dối trá, để cho người ta trách.
Để không viết, chưa viết chỉ vì quá cầu toàn, sang quá, oai quá rồi còn gì !

Thật ra, lần này thì tôi không tự dối mình, không những tôi không biết viết thế nào, đơn giản hơn nhiều : tôi không biết viết gì cả. Chẳng có gì trong mình để viết ra cả.

Sau này tôi có đọc ở đâu đó của nhà phê bình Pháp rất tinh tế Maurice Blanchot : “ Dấu hiệu chứng tỏ tầm quan trọng của một nhà văn, là ở chỗ anh ta chẳng có gì để nói cả ” (« Le signe de son importance, c’est que l’écrivain n’a rien à dire. » (L’espace littéraire). Tất nhiên, tôi là loại nhà văn chẳng có tầm quan trọng gì. Nhưng sao cái ông Blanchot tận bên Tây ấy giỏi thế !

Tầm quan trọng của bước chuyển của một nền văn học là ở chỗ nó đột ngột cảm thấy “ chẳng có gì để nói cả ”. Một khoảng chân không tuyệt đối.

Cái cũ đã nói rồi. Cái mới chưa có.

Tôi cho rằng văn học ta khoảng từ 75 đến gần 80 là như vậy (thời gian cụ thể nói ở đây chẳng có gì chắc chắn lắm đâu).

Không làm gì có chân không tuyệt đối. Vẫn có vật chất và vận động trong ấy. Cái cũ “ đã nói rồi ” vẫn còn lải nhải được nói tiếp, nhạt nhẽo, vô vị, theo quán tính. Và cái mới đã manh nha đâu đó, mơ hồ, mò tìm, cảm giác, thiểu số, rất thiểu số.

Có lẽ Nguyễn Minh Châu là một trong ít người cảm giác ra sớm hơn cả. Nhưng anh không nói, cả với tôi, dẫu chắc anh có biết tôi cũng đang đau khổ đi tìm. Anh quờ quạng viết.

Hãy nhớ lại một ít truyện ngắn Nguyễn Minh Châu ngày ấy. Đọc rất khó hiểu, chẳng biết anh định nói cái gì. Có lẽ chính anh cũng không hiểu. Anh mới cảm giác thôi.

Tôi thua anh xa. Tôi cảm giác kém hơn, mơ hồ hơn. Và tôi im lặng.

… Tôi bắt đầu làm bí thư Đảng đoàn Hội Nhà văn trong tình trạng như vậy, chắc ông Tố Hữu khi sắp xếp tôi không hề ngờ đã giao trọng trách cho một kẻ dao động đến thế.

Duy có một điều – điều này chính cuộc chiến đấu lâu dài, chính Đảng đã rèn luyện cho tôi – : tôi biết phải thay đổi, quyết phải thay đổi. Không phải chỉ tôi. Cả văn học ta.


Một hôm tôi đến làm việc với anh Trần Độ, bấy giờ là phó ban tuyên huấn, trực tiếp phụ trách văn hóa văn nghệ. Tôi có biết anh Trần Độ trước đây, đã lâu lắm, một lần tôi đi cùng anh Văn Phác xuống Quân khu Hữu ngạn đóng ở Nam Định, anh Độ đang làm chính ủy quân khu ở đấy, đâu khoảng 1960, 61. Biết, chứ chưa hề quen. Chống Mỹ, anh Độ ở Nam Bộ, tôi ở Khu 5, không hề gặp nhau.

Tôi đến báo cáo với anh ý định công việc của Đảng đoàn. Cũng không còn nhớ hôm ấy tôi đã trình bày những gì. Đại thể là khá dông dài, suốt cả một buổi chiều. Anh Độ kiên nhẫn nghe. Cuối cùng tôi nói : cố gắng làm thế nào, giỏi thì khoảng mươi năm, dở thì mười lăm hai mươi năm, đưa văn học ta lên một bình diện khác, tạo nên được một số đỉnh cao mới.

Anh Độ rót nước cho tôi, rồi nói, rất thong thả :

- Kế hoạch của cậu, mình tán thành cả. Nhưng mà, cậu ạ, mình nghĩ trong nghệ thuật, muốn có đỉnh cao mới thì phải có trường phái mới.

Tôi kinh ngạc.

Và từ đó, tôi thân anh.

Sao con người ấy, vị tướng thú thực trước tôi nghĩ là giản dị, đáng yêu, nhưng chắc cũng võ biền thôi, không phải người sáng tạo, không ở trong nghề, vậy mà anh lại cảm nhận được điều đó ?

Về sau, quen thân, làm việc, chơi bời với nhau nhiều nữa, tôi chưa lần nào hỏi lại anh hồi đó anh nói trường phái mới là thế nào. Tôi chắc anh cũng cảm giác thôi. Và anh diễn đạt như vậy.

Không phải ngẫu nhiên mà sau này Nguyễn Minh Châu cũng đến với anh Độ.

Nhiều người ác mồm hay bảo anh Độ và một số anh em chúng tôi có những âm mưu ghê gớm lắm. Có âm mưu thật đấy: âm mưu thực hiện cái cảm giác ấy.
Còn nữa Nguồn:diendan.org
 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email



Những bản tin khác:



Lên đầu trang
Các bản tin mới đăng
TỪ BIỂN LÊN RỪNG - Bút ký của Ngô Xuân Huệ
Chùm thơ xuân của Trần Ngọc Ánh
Chùm thơ Đặng Hữu Trung
Thơ Dương Thuấn - song ngữ Tày Việt - P 3
Tập thơ "Tình ca Thiếu Khanh" - Phần 2
THƠ DƯƠNG THUẤN - (song ngữ Tày - Việt) P 2
Tập thơ “Tình ca Thiếu Khanh” - Phần 1
THƠ DƯƠNG THUẤN P1
Phạm Vĩnh Cư: Thưởng ngoạn tuyển tập Dương Thuấn
Phạm Ngọc Thái: Chùm thơ Khóc con
Tin cùng chủ đề
Me tây
Thung Lam
Chùm truyện ngắn Mini của Vũ Thanh Hoa
Lần đầu bên nhau ( phần 1)
Nguyễn Huy Hoàng - Tìm con, chăm bạn, làm thơ
I am đàn bà
Truyện ngắn mini - Đỗ Ngọc THạch
Lần đầu bên nhau (phần 3)
Lần đầu bên nhau (phần 2)
Tình qua tin nhắn
 
 
 
Thư viện hình