Tin tức  |  Diễn đàn  |  Thư viện hình  |  Liên hệ
Thứ hai,
25.10.2021 10:02 GMT+7
 
 
Kho bài viết
Tháng Mười 2021
T2T3T4T5T6T7CN
        1 2 3
4 5 6 7 8 9 10
11 12 13 14 15 16 17
18 19 20 21 22 23 24
25 26 27 28 29 30 31
 <  > 
Nhận thư điện tử
Email của bạn

Định dạng

Thành viên online
Thành viên: 0
Khách: 3
Số truy cập: 1445742
Tin tức > Nghiên cứu-Phê bình-Chân dung > Xem nội dung bản tin
­­­­­Lưu Quang Vũ – một hồn thơ giàu cảm hứng sáng tạo (Đoàn Trọng Huy*)
[11.09.2018 22:29]
Xem hình
LTS: Nhân kỷ niệm 30 năm ngày mất của nhà thơ Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh, chúng tôi giới thiệu chùm bài viết về hai nhà thơ của PGS. TS Đoàn Trọng Huy cùng bạn đọc NBĐ: Lưu Quang Vũ là một nhà thơ thiên bẩm. Ở đây, không hẳn là một thần đồng, nhưng đã có thơ làm từ khi còn trên ghế nhà trường. Trước khi lên đường nhập ngũ, anh còn thông báo tin vui cho bè bạn là được Giải Nhất văn trong cuộc thi cấp Thành phố.

Vậy là, anh vào đời, nhập ngũ với khát vọng chiến đấu và làm thơ. Bên cây súng là cây bút để ghi lại một thời sôi động và quả cảm của tuổi 17.

I/ M?T TÀI THƠ ĐƯỢC CHĂM SÓC VÀ NẢY NỞ

Nếu nhìn từ ngoài, dễ có một linh cảm rằng Lưu Quang Vũ là con nhà nòi, có gien thi sĩ.

Quả là nhà thơ Lưu Quang Thuận – thân sinh, đồng thời là kịch tác gia, còn ông chú Lưu Trùng Dương cũng là nhà thơ quân đội có tên tuổi. Ảnh hưởng của gia đình là có thật. Kể cả các anh em cũng đều đi vào hoạt động văn học văn hoá nghệ thuật. Trong đó, có em gái Lưu Khánh Thơ – có chức danh Phó Giáo sư, Tiến sĩ, là người nối nghiệp cha và anh một cách xuất sắc.

Tuy nhiên, công lao phát hiện và chăm sóc tận tình chính là người cha thân yêu.

Lưu Quang Thuận đã sớm nhận ra năng khiếu bẩm sinh nghệ thuật của Lưu Quang Vũ, và cho anh học vẽ từ tuổi nhỏ. Đó là mầm mống được vun trồng và chăm sóc, để anh trở thành nghệ sĩ tương lai.

Hồn thơ Lưu Quang Vũ cũng được nhen nhóm như một hứng thú đặc biệt, và anh đã chọn lựa nghệ thuật thơ ca như nghề và nghiệp trong đời.

Tuy nhiên, sự trải nghiệm tuy ban đầu còn ít ỏi, nhưng là cái vốn sống quý giá như những nhiên liệu sinh động của hồn thơ non trẻ.

Lưu Quang Vũ đã có một tuổi thơ vất vả, thậm chí một tuổi thơ trong hoàn cảnh  “dữ dội” vì lớn lên trong thời  kháng chiến và bao cấp – dạng kinh tế thời chiến kéo dài.

Điều quan trọng có tính tiên quyết là, cậu bé, chàng trai trẻ vị thành niên ấy đã thấm thía một cách sâu xa mọi sự kiện của cuộc đời, mọi ấm lạnh của tình cảnh và nhân tình, thế thái.

Lưu Quang Vũ có một tâm hồn với một dàn ăng ten cực nhạy, có thể nắm bắt mọi tái hiện xa gần, và phủ sóng với một dải phổ rộng.

Từ trẻ, đã là một tâm hồn đa cảm. Lớn lên, lại là đa tình. Tài hoa gắn với đào hoa. Lao vào tình trường, nếm trải cả ngọt ngào và cay đắng, với bao buồn vui, đau khổ từ tình yêu và hôn nhân.

Lưu Quang Vũ được nhận xét là đa tài và đa đoan.

Tất cả, tất cả một thời trai trẻ đầy sự kiện, tình cảnh, trải nghiệm ấy đã tạo nên hồn thơ trẻ - hồn thơ một thời  “viển vông cay đắng u buồn”

Lưu Quang Vũ làm thơ với những thi hứng phong phú đặc biệt, là vì vậy.

Hương cây hồn nhiên với thiên nhiên, quê hương, đất nước và cuộc đời. Hương ấy ngày càng đậm đà phong vị cuộc đời phong ba, bão táp chung – riêng. Cho đến Mây trắng của đời tôi, tập thơ cuối đời thơ, vẫn gửi lại đời những hương sắc lạ trong một hồn thơ nghệ sĩ.

NHỮNG CẢM HỨNG THƠ ĐẶC SẮC

Thơ Lưu Quang Vũ có bốn  nguồn cảm hứng lớn:

- Cảm hứng về đất nước, nhân dân.

- Cảm hứng về dân tộc.

- Cảm hứng về tình yêu.

- Cảm hứng về thời thế.

Ở mỗi thời đoạn sáng tác, lại nổi lên một cảm hứng chủ đạo. Như cảm hứng thời sự - thế sự mạnh mẽ từ những năm 70. Có cảm hứng xuyên suốt đời thơ, và ngày càng mãnh liệt, như cảm hứng tình yêu.

Nói chung, những cảm hứng ấy đều đan cài, và kết hoà với nhau:

... Mấy núi đèo rồi anh cũng vượt

Chỉ nhớ quê nhiều, nhiều lắm nhớ em

... Anh nhìn vô tận đường xa thẳm

Nghĩ về đất nước, nghĩ về em


Nhân tình, ái tình như cùng lúc tác động lên tâm hồn yêu thương:

Khi những điều giả dối vây quanh

Bàn tay ấy chở che và gìn giữ


Cảm hứng về đất nước, nhân dân

Cảm hứng về đất nước, và nhân dân vốn là nguồn cảm hứng trường tồn của thi nhân xưa và nay. Đó là nguồn cảm hứng sẽ tạo ra tình yêu quê hương, đất nước, xứ sở như một tình cảm lớn lao, quý giá, như một báu vật tinh thần được lưu truyền qua các thế hệ.

Cảm hứng lớn lao ấy, bắt nguồn từ những gì gần gũi, thân quen nhất, đến những gì lớn lao, to tát nhất, kỳ vĩ nhất.

Từ tình yêu “hương bưởi, hương chanh” đến ngọt ngào hoa rừng, hương núi; từ gắn bó giếng nước, ao làng tới mê say sông suối, biển cả, đất trời mênh mông. Đó chính là quá trình cảm nhận đối tượng  thẩm mỹ đặc biệt.

Mỗi con người, mỗi nhà thơ đều có đời sống trong một thời đoạn lịch sử. Hình ảnh quê hương đất nước, vì vậy, mang tính lịch sử cụ thể.

Lưu Quang Vũ đã sống trọn tuổi thơ và tuổi vào đời trong hoàn cảnh đất nước trải qua những tháng năm đau thương, và anh dũng vào bậc nhất trong lịch sử dân tộc. Chiến tranh, rồi sau chiến tranh – những năm sau 75, đất nước trở mình trong bước đầu đổi mới.

Cảm hứng về đất nước đau thương, và nhân dân anh hùng là nguồn cảm hứng chủ đạo và thường trực của hồn thơ Lưu Quang Vũ.

Dấn thân vào cuộc chiến đấu với tư cách người lính, Lưu Quang Vũ có dịp qua nhiều vùng miền, xứ sở quê hương trong kháng chiến chống Mỹ.

Hơn ai hết, với con mắt nhìn hiện thực ngày càng bớt đi cái lãng mạn “viển vông”, nhà thơ trẻ đã tận mắt nhìn những tàn phá của bom đạn và hậu quả trong đời sống.

Được truyền cảm bởi các bậc đàn anh, bậc thầy,  nhà thơ Lưu Quang Vũ đã góp thêm vào những cảm nhận sâu sắc về cảnh “Đất nghèo nuôi những anh hùng”, “Vất vả đau thương, tươi thắm vô ngần” (Nguyễn Đình Thi). Những dòng thơ đầy thương cảm, xót xa về “Nước Việt đói nghèo thêm cơ cực” từ trong thẳm sâu tâm hồn được trang trải:

-  Đất hẹp trụi trần vạn khổ đau

-  Đất tả tơi trong định mệnh đói nghèo

-  Đất gầy đói, đất bùn lầy cơ cực


Đất chính là hình tượng quy tụ của nghèo khó, cơ cực. Đất đai của Tổ quốc gánh chịu mọi thảm hoạ của chiến tranh, và của cả thiên tại. Mưa gió hãi hùng: “Bán đảo mưa rào và gió mặn”. Lũ lụt kinh hoàng: “Những cánh đồng nằm trong lũ lụt/ Những xóm làng tan hoang...”.

Mảnh đất quê hương thấm mồ hôi của những người đi mở cõi, giờ đây còm thấm máu của những người đi giữ nước:

Đất chiến hào vẫn đồng đất quê ta

Máu đồng đội đã thấm vào đất ấy

Một cảm xúc lạ đến trong thơ: “Những đêm thức nghẹn ngào nghe đất gọi”, “Ngực anh thở gắn liền với đất”.

Tiếng thơ Lưu Quang Vũ đầy cảm thương, và cũng không giấu lòng khâm phục quê hương, đất nước trong những ngày khói lửa chiến tranh.

Lời tự vấn sẽ dồn trút căm thù và yêu thương vào ngọn súng: “Mảnh đất nghèo ứa máu/ Người sẽ đi đến đâu?”. Từ đó là niềm tự hào sâu sắc  và một tình yêu mãnh liệt vào sức mạnh tiềm tàng của dân tộc. Tội ác kẻ thù: “Không ngăn được nước Hồ Gươm/ Xanh thắm lòng người Kẻ Chợ”. Và cuộc hồi sinh tươi đẹp sau chiến tranh: “Dân tộc mình mở tới một trang vui”.

Hình tượng nhân dân anh hùng gắn liền với đất nước anh dũng.

Nhân dân chính là nguồn cảm hứng gắn bó hữu cơ  với đất nước.

Nhân dân là người xây dựng vĩ đại trong mọi hoàn cảnh lịch sử:


“... Người vỡ rừng, mở đất bao la

... Người cùng tôi bên bờ biển bão”


Lưu Quang Vũ nhiều lần đã chia sẻ về số phận của nhân dân: “Tâm hồn tôi trong số phận của người (...) Hạt mưa tôi trong biển người vô tận”.

Đặc biệt, nhà thơ tôn vinh hết mức vai trò, sứ mệnh và sức mạnh của nhân dân.

Xưa kia, trong thơ ca, với các bậc chính nhân quân tử, cũng như ngày nay, những nhà thơ tài danh đều ca ngợi nhân dân. Tuy nhiên, Lưu Quang Vũ đã ca ngợi nhân dân theo cách của mình qua hình ảnh ẩn dụ thật đẹp: Ngọn lửa


Nhân dân có gì giống như lửa phải không anh

Gió bão ngàn đời vẫn nối nhau chẳng tắt


 Mấy đoạn thơ về lửa


Và thật lung linh là “Người thêu dệt” như nghệ nhân cuộc đời:


Đi chân không người thêu vạn hài cong

Mặc áo nâu người dệt muôn sắc lụa

 Cảm hứng về dân tộc

Cảm hứng về dân tộc liền mạch với đất nước và nhân dân cũng thật sâu đậm trong thơ Lưu Quang Vũ.

Trước hết, đó là những cảm nhận về truyền thống lịch sử, trong đó có truyền thống văn hiến nghìn đời. Hồn dân tộc như được lưu giữ trong bao công trình văn hoá vật thể và phi vật thể.

Nối tiếp ý tưởng và cảm xúc của Chế Lan Viên về “nền văn minh trên lưu vực sông Hồng” – cái nôi cất cánh của lịch sử. “Cả dân tộc bay theo hình chim Lạc”, nhà thơ trẻ cũng có những sự khai thác sâu về cội nguồn dân tộc qua những hình ảnh thơ đẹp kỳ lạ:

Những mái tóc dài bay theo gió biển đông

Những mái lá có bùi nhùi giữ lửa

Những người đàn bà tết cỏ cây che vú

Đã ngọt ngào dòng sữa

Điệu ru con đầu tiên

Bức tranh đầu tiên khắc mặt người trên đá

Điệu múa đầu tiên theo nhịp thuyền

Cả những gì là cổ xưa, như huyền thoại:

Những ban mai xanh biếc tiếng đàn bầu

Bà hiền hậu têm trầu bên chõng nước

Em đi gặt trên cánh đồng cổ tích

Lúa bàng hoàng chín rực những triền sông

Di tích văn hoá trên đất Kẻ Chợ băm sáu phố phường, qua câu hát, trên những nét gỗ khắc tài hoa. Rồi hội hè, đình đám và những tiếng đàn bầu tha thiết trở thành biểu tượng của Đất nước đàn bầu.

Tiếng nói như tiếng lòng vấn vương, quấn quyện với con người.

Tiếng Việt là một kiệt tác, không chỉ vì là ngôn ngữ tinh hoa của dân tộc, mà còn là nơi hội tụ tâm hồn dân tộc.

Tiếng Việt được ví “trong trẻo tựa như hồn dân tộc Việt”, và vang lên “rung rinh nhịp đập trái tim người”.

Tiếng Việt – tiếng nói kêu gọi những tấm lòng, gợi phản  tỉnh những thức nhận, để vượt qua sự hận thù, chia rẽ, cách xa:

Ai phiêu bạt nơi chân trời góc bể

Có gọi thầm tiếng Việt giữa đêm khuya

Ai từ phía bên kia cầm súng khác

Cùng tôi trong tiếng Việt quay về

Đó là sức mạnh kỳ diệu của ngôn ngữ dân tộctrong lịch sử.

Với tiếng nói như “hồn thiêng đất nước” (Huy Cận), con người dân tộc tự hào với một trách nhiệm thiêng liêng, nhất là những người sáng tạo văn chương: “Trời xanh quá, môi tôi hồi hộp quá/ Tiếng Việt ơi, tiếng Việt ân tình”.

Cảm hứng dân tộc không chỉ được khơi gợi từ quá khứ, mà trực tiếp, sinh động ngay trong lịch sử đương đại, trong cuộc chống trả quyết liệt với những tên đế quốc siêu cường.

Điều dễ cảm nhận, và gây xúc động tức thời là những chiến công, chiến thắng rực rỡ, thể hiện được sức mạnh vô địch của một dân tộc quật cường không thế lực nào có thể khuất phục.

Lưu Quang Vũ cũng đứng vào hàng ngũ của những dũng sĩ mà vóc dáng ngang tầm chiến luỹ với câu thơ mang lửa: “Câu thơ ư, là cách chuyển lửa qua muôn đời” (Chế Lan Viên).

Nhà thơ trẻ đã có những vần thơ thời sự nóng bỏng vì sự thắp sáng và chuyển lửa như vậy: Đêm đông chí uống rượu…, Viết lại một bài thơ Hà Nội, Việt Nam ơi....

Niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh tiềm tàng của dân tộc như thứ vũ khí siêu cường, đã chiến thắng trong trường kỳ lịch sử: Những người đi năm ấy. “Viên đạnthù độc ác” không bao giờ có thể làm tan vỡ khi “Bắn vào mặt yêu thương”:

Không ngăn được nước Hồ Gươm

Xanh thắm lòng người Kẻ Chợ

Viên ngói hoa dưới Tràng An đất cổ

Đến ngôi trường mới mở sáng như gương

Lưu Quang Vũ – Xuân Quỳnh

Cảm hứng về tình yêu


Trải qua nhiều thăng trầm trong tình trường, Lưu Quang Vũ là nhà thơ được xếp vào hạng những người giàu cảm hứng, và thể hiện cảm hứng yêu đương loại xuất sắc nhất.

Thơ tình Lưu Quang Vũ – Xuân Quỳnh đã là một sản phẩm đẹp, góp vào cõi tình trong nhân gian.

Lưu Quang Vũ là người tạo dựng được nguồn cảm hứng tình yêu gần như bất tận trong đời mình, và đã truyền được cảm hứng tình yêu mạnh mẽ trong không gian và khí quyển ái tình không chỉ một thời.

Tình yêu trong đời và trong thơ là sản phẩm của cảm hứng tình yêu mang dấu ấn Lưu Quang Vũ (và có sự cộng hưởng của Xuân Quỳnh), trở thành một “đặc sản” tâm hồn và thi ca.

Tình yêu ấy phong phú muôn màu, muôn sắc, bởi được đan dệt bằng biết bao cảm xúc tinh vi, tế nhị, say đắm. Tình yêu ấy như một sinh thể, có đời sống, có biến hoá qua nhiều hoàn cảnh, tâm trạng, do đó, dĩ nhiên mang nhiều sắc thái biểu hiện.

Tất cả như đều hoà cùng một giai điệu mê đắm của cảm xúc tâm hồn.

Có những chủ đề như những gợi mở của một trung tâm cảm xúc nổi bật trong cảm hứng tình yêu.

Đó là tình yêu như duyên phận, tình yêu gắn với số phận như một sứ mệnh của cả anh và em:

Anh yêu em, vậy thì anh tồn tại

Đó là tình yêu lý tưởng, như một đam mê và khát vọng khôn cùng. Dĩ nhiên, đó là tình yêu gắn liền với hạnh phúc. Hạnh phúc lứa đôi cùng với hạnh phúc gia đình.

Lưu Quang Vũ không ngừng tìm kiếm, khám phá và phát hiện vẻ đẹp nhiều sắc màu của tình yêu, kể cả vẻ đẹp rất bình dị, đời thường. Hình ảnh em luôn lộng lẫy, kỳ ảo trước mắt thi nhân:

... Người yêu như lụa và như lửa

... Em như cầu vồng bảy sắc hiện sau mưa

Tuy nhiên, có một nét độc đáo của người tình đã nếm qua những trái đắng, nên nhà thơ khao khát đi tìm mùa quả ngọt. Đó là tâm nguyện về một tình yêu kiến tạo.

Và nữa, một tình yêu như giao cảm, giao lưu tuyệt diệu. Qua đó là sự cho và nhận vô tư, là ân tình, thắm nghĩa với nhau:

... Anh vọng về em một sắc trời xanh

Ở nơi xa, em còn nhớ gió ân tình

... Anh có lại niềm vui và sức lực

Nhờ em cho em đời sống của anh đi


 Cảm hứng về thời  thế

Đây là cảm hứng nổi lên như một nét đặc sắc thơ Lưu Quang Vũ. Đúng ra, đó là thế sự - thời sự, hoặc ngược lại, thời sự - thế sự.

Thời thế và hoàn cảnh riêng đã làm nên một chàng trai trẻ sớm già trước tuổi với những suy tư trầm lắng, sâu xa. Và đó cũng chính là những suy tư sắc sảo, có tính thời sự, thời đại.

Còn rất trẻ, nhưng Lưu Quang Vũ đã giàu trải nghiệm – trải nghiệm về đời sống, về cuộc kháng chiến, vả cả trong trường tình ái cuộc đời.

Thực ra, đây cũng là hiện tượng rất mới ở thế hệ các nhà thơ trẻ thời chống Mỹ. Suy tư về thời sự, và sau đó là thế sự, hoặc cả hai, làm cho họ trở nên già dặn, và cứng rắn hơn trong cả nhận thức, tình cảm và hành động. Đó cũng  là trường hợp của Bằng Việt, Nguyễn Khoa Điềm, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy, Thanh Thảo.

Lưu Quang Vũ, khác với bè bạn, và do đó cũng có hơn họ về trải nghiệm tình trường, qua đó là bao thử thách, bao nỗ lực vượt thoát để đi tìm tình yêu và hạnh phúc chân chính. Dĩ nhiên, anh phải chịu đựng bao lo âu, trăn trở, bất mãn và khổ đau.

Chính vì vậy, qua tình ái, nhà thơ trải nghiệm ra những điều rộng ra, lớn hơn về thế thái nhân tình. Trong những mối tình đầu, anh không khỏi có dại khờ, kể cả lầm lỡ. Từ đắng cay, khổ đau, lại suy ra sự dối trá, phụ bạc cũng là của nhân tình thế thái.

Va đập trong cuộc sống, vấp ngã trong cuộc đời cũng là những suy nghiệm từ bản thân ra nhân thế. Đặc biệt, chiến tranh sớm làm cho nhà thơ trẻ tỉnh ngộ về những sự thật cay đắng trên đời.

Nguyễn Du như chuyển tải cho nhà thơ trẻ nỗi đau đời – “Đau nỗi đau của mỗi trái tim người”. Là nỗi đau khi những đồng đội, người thân và biết bao sinh linh đã đi vào cõi khác. Nhà thơ đau nỗi đau phận người, kiếp người chân thành như dày xé tâm can:

Những người chết đứng lên cùng kẻ sống

Những cánh tay như dấu hỏi chìa ra

Những cánh tay như buồm thẳng vươn xa

Trên biển rộng đợi một lời giải đáp

Đây là câu hỏi thời sự - thế sự cho những thân phận trong cuộc đời hiện ra qua Giấc mộng đêm.

Những bài thơ thời chiến luôn gợi cho người đời về một thế giới bị đảo lộn, đầy rẫy tàn khốc và nhiều điều phi lý. “Giữa chiến tranh hiểu đời thực hơnnhiều/Rách tan cả những  làn sương đẹp nhất” – nhà thơ từng tự nhủ như vậy.

Di cảo thơ  có những bài viết cho mình đầy suy tư trăn trở về thời  cuộc. Với ý thức công dâ và cả  lương tâm công dân toàn cầu nhà thơ có những câu hỏi đặt ra với tầm nhân loại: “Những kẻ nào đã gây ra tội ác” (Khâm Thiên),“ Máu  con người khôngphải thứ bán mua” (Những đám mây ban sớm ) .Đây là  vấn đề của lương tâm và trách nhiêm không chỉ của một dân tộc mà của cả  “ba nghìn triệu trên đời”  như một ý thơ Tố Hữu.

Bây giờrất thời sự trong tưởng tượng: ?Bây giờ/ Người sao Hoả mắt đèn pha/ Lưỡi dài bạch tuộc/ Đã tràn xuống đen ngòm mặt đất/ Cánh tay ai/ Mọc trên tường đá rắn/ Ai dấu dao găm trong áo choàng/ Đi giữa những hình Manơcanh”. Nhân vật trong cõi mộng hiện ra khác thường, phi lý: từ các cô gái cười rủ như mèo đến ông luật sư đi ăn mày nơi cửa chợ... (Móng tay trên đá).

Những đảo lộn về giá trị xã hội, sự xuống cấp đạo đức được phát hiện sớm đồng thời trong sáng tác kịch Lưu Quang Vũ. Nhà thơ nhìn đời cả ở phía ánh sáng và bóng tối bằng cái nhìn chân thật, nghiêm nhặt.

Từ đó là sự xuất hiện những luận đề thế sự, những phát hiện xã hội chính xác, giàu sức kiến tạo. Chân lý thơ ca cũng là triết lý đời sống: “Nịnh đời dễ, chửi đời cũng dễ/ Chỉ dựng xây đời là khó khăn thôi”.

                                           *

Hồn thơ  phong phú đơm hoa kết trái suốt hành trình thơ.Cảm hứng sáng tạochủ đạo  thường hướng về phía nhân dân, đất nước, gắn bó số phận bản thân với cộng đồng dân tộc. Đồng thời với cảm hứng lớn  là tình yêu, tình người trong suy tư thời sự - thế sự.

Qua thơ, Lưu Quang Vũ đã tạo lập được một thế giới nghệ thuật độc đáo, kết hợp được riêng – chung  của một cái tôi trữ tình  luôn vận động với  ngọn lửa nhiệt hứng công dân và cảm thức thi sĩ  mê đắm.

CHÚ THÍCH

(*) PGS. TS Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Vương Trí Nhàn (2015), Lưu Quang Vũ và một quãng đời, một quãng thơ thường bị bỏ quên, http://chungta.com, 5/2015. Nguồn: Văn nghệ Đồng bằngsông Cửu Long.

[2] Vũ Quần Phương (1998), Đọc thơ Lưu Quang Vũ – Thơ với lời bình, Giáo dục.

[3] Kiều Mai Sơn (2018), Lưu Quang Vũ và những bài thơ chỉ viết cho mình, http://nongnghiep.vn, 16/8/2018

Tin liên quan:
Đoàn Trọng Huy: Cảm nhận về bản lĩnh cốt cách Nguyễn Huy Thiệp tài năng (27.06.2021 21:29)
 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email



Những bản tin khác:



Lên đầu trang
Các bản tin mới đăng
TỪ BIỂN LÊN RỪNG - Bút ký của Ngô Xuân Huệ
Chùm thơ xuân của Trần Ngọc Ánh
Chùm thơ Đặng Hữu Trung
Thơ Dương Thuấn - song ngữ Tày Việt - P 3
Tập thơ "Tình ca Thiếu Khanh" - Phần 2
THƠ DƯƠNG THUẤN - (song ngữ Tày - Việt) P 2
Tập thơ “Tình ca Thiếu Khanh” - Phần 1
THƠ DƯƠNG THUẤN P1
Phạm Vĩnh Cư: Thưởng ngoạn tuyển tập Dương Thuấn
Phạm Ngọc Thái: Chùm thơ Khóc con
Tin cùng chủ đề
Lặng lẽ Nguyễn Thành Long
Hoàng Đức Lương - Quan niệm thi học và thơ
Nguyễn Bảo Sinh-nhà thơ dân gian có chất “Bút Tre”
Lần theo mối tình Chí Phèo - Thị Nở
Nhà thơ Việt Phương: “Nhân chi sơ, tính…phức tạp”
Trí khôn nhà văn ở đâu?
CHÂU HỒNG THUỶ: Nếu tôi là Puskin
Một người Việt làm thơ bằng tiếng Nga
Tượng đài người lính Điện Biên (qua bài thơ “Giá từng thước đất” của Chính Hữu)
Phê bình văn học - Trường hợp Trương Tửu
 
 
 
Thư viện hình