Tin tức  |  Diễn đàn  |  Thư viện hình  |  Liên hệ
Thứ bảy,
20.10.2018 15:43 GMT+7
 
 
Kho bài viết
Tháng Mười 2018
T2T3T4T5T6T7CN
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30 31        
 <  > 
Nhận thư điện tử
Email của bạn

Định dạng

Thành viên online
Thành viên: 0
Khách: 1
Số truy cập: 997939
Tin tức > Văn học thế giới > Xem nội dung bản tin
Thơ Hermann Hesse - Phạm Kỳ Đăng dịch
[04.02.2018 19:01]
Hermann Hesse : (Hermann Karl Hesse, cũng viết dưới bút danh Emil Sinclair, * 1877 † 1962) nhà văn, nhà thơ và họa sĩ. Ông nổi tiếng thế giới với những tác phẩm văn xuôi Siddhartha hoặc Steppenwolf (Sói đồng hoang) cũng như với những bài thơ như bài Stufen (Những bậc thang). Năm 1946 Hesse nhận giải thưởng Nobel văn chương và Huân chương Pour le mérite của Viện Hàn lâm Nghệ thuật.

Tiểu sử: Hermann Hesse sinh ngày 02 tháng 7 năm 1877 tại Calw, Württemberg. * Học trường Latin ở Calw và học trường dòng tại tu viện Maulbronn, nhưng bỏ học sau vài tháng. * Sau khi học hết bậc phổ thông, học thợ cơ khí đồng hồ, nghề bán sách và sáng tác văn học. * Năm 1899 xuất bản tập thơ đầu tiên Những bài ca lãng mạn. * Hoàn thành tiểu thuyết mang lại thành công nghề nghiệp Peter Camenzind (1904). * Kết hôn với Mari Bernouli người Thụy sĩ và chuyển đến Gaienhofen, một vùng hẻo lánh ở Bodensee. * 1911 tiến hành một chuyến du hành Đông Á. * Từ 1912 sống tại Bern. * Năm 1919 xuất bản tiểu thuyết nổi tiếng Demian, cũng trong năm đó ông chuyển về sống một mình tại Montaglona (Tessin).* Ly hôn và kết hôn với Ruth Wenger. * Tác phẩm danh tiếng nhất của ông Steppenwolf xuất bản vào năm 1927, nhân dịp sinh nhật tuổi 50. * Năm 1931 kết hôn lần thứ ba với Ninon Dolbin. * 1924 trở thành công dân mang quốc tịch Thụy Sĩ. * Trong thế chiến II, năm 1943 ông hoàn thành tác phẩm Das Glasperlenspiel. * Năm 1946 Nhận giải thưởng Nobel văn chương. * Hermann Hesse mất tại Montaglona ngày 09.08.1962.


Tác phẩm:
Thơ:
– Những bài ca lãng mạn (Romantische Lieder, 1899), thơ
– Thơ (Gedichte, 1902), thơ
– Trên đường (Unterwegs, 1911), thơ
– Thơ của người họa sĩ (Gedichte des Malers, 1920), thơ
– Thơ tuyển (Ausgewählte Gedichte, 1921), thơ
– Khủng hoảng: Nhật ký (Krisis : Ein Stück Tagebuch, 1928), thơ
– Sự an ủi của đêm (Trost der Nacht, 1929), thơ
– Thơ mới (Neue Gedichte, 1937), thơ
– Thơ (Gedichte, 1942), thơ
Văn xuôi:
– Peter Camenzind (Peter Camenzind, 1904), tiểu thuyết
– Dưới bánh xe lăn (Unterm Rad 1906), tiểu thuyết
– Siddhartha (Siddhartha, 1920), tiểu thuyết
– Sói đồng hoang (Der Steppenwolf, 1927), tiểu thuyết
– Hành trình về Phương Đông (Die Morgenlandfahrt, 1932), tiểu thuyết
– Trò chơi hạt cườm pha lê (Das Glasperlenspiel, 1943), tiểu thuyết.


Những bậc thang


Như mỗi bông úa tàn, và mỗi thanh xuân nhường lối
tuổi già, cũng vậy thăng hoa mỗi bậc thang đời
Mỗi điều thông thái mãn khai, và mỗi đức hạnh vào thời
của mình, và không được phép trường tồn vĩnh cửu.
Con tim, cứ mỗi lúc đời lên tiếng gọi
phải sẵn sàng từ giã và tái khởi đầu
Để hiến thân cho can đảm và chẳng buồn rầu
Đưa mình vào ràng buộc mới và khác hẳn
Và mỗi khởi đầu một phép màu tiềm ẩn
Chở che ta và giúp đỡ tồn sinh.


Cần phấn chấn ta sải bước qua từng vũ trụ
Không dừng nơi như vướng vào một chốn quê
Tinh thần thế giới đâu muốn trói và thu hẹp ta về
Mà muốn nâng ta, mở rộng cho ta từng bậc
Vừa chưa kịp gắn bó một vòng đời và thân mật
làm quen, thế đấy đã có cơ héo tàn
Chỉ có ai sẵn sàng xuất phát và lên đường
Mới có cơ thoát sự thích nghi làm tê liệt.


Cũng có thể còn đó giờ cái chết
Gửi đáp ta những vũ trụ mới trẻ trung
Tiếng đời gọi ta, sẽ chẳng lúc nào dừng
Vui nhé, tim ơi, hãy giã từ và khỏe mạnh!


Bản nguyên tác tiếng Đức Stufen


Cây như những người cô đơn, vĩ đại


Đối với tôi cây luôn là nhà giảng đạo thấu đáo nhất. Tôi ngưỡng mộ cây nếu chúng sống cụm thành những gia đình và dân tộc, trong những triền và rừng. Mà thế đó tôi ngưỡng mộ cây hơn, nếu chúng đứng riêng ra. Chúng như những người cô độc. Không như những người ẩn sĩ, vì một sự yếu đuối lánh thân đi, mà như là những con người đơn côi vĩ đại, như Beethoven và Nietzsche. Thế giới xào xạc trong những tán cây, cội rễ chúng an tọa trong cõi vô biên; một mình chúng không mất đi trong đó, mà với tất cả sinh lực chúng vươn tới chỉ một điều duy nhất: thực hiện quy luật tiềm ẩn bên trong, xây đắp hình hài riêng, tự phô bày bản thân mình. Chẳng gì thiêng liêng hơn, gương mẫu hơn một cái cây đẹp và khỏe mạnh. Nếu một cái cây bị cưa đổ và chỉ cho mặt trời vết tử thương trần trụi, thì người ta có thể đọc được trên lớp cắt sáng của gốc trơ và mộ chí toàn bộ lịch sử của nó: trong những vòng tuổi và những tích tụ ký thác lại trung thành mọi cuộc tranh đấu, mọi tổn thương, mọi bệnh tật, mọi hạnh phúc và mãn khai, những năm thiếu thốn, những năm đủ đầy, những đòn tấn công đã qua, những cơn bão giông đã vượt. Và mỗi một cậu bé nhà nông biết được, gỗ cứng nhất, quý nhất có những vòng sao sít nhất, rằng cao trên những ngọn núi kia mọc lên những cội cành khỏe mạnh nhất, gương mẫu nhất và bất khả hủy diệt nhất trong mối hiểm nguy luôn hiện tồn.


Cây là những ngôi đền thiêng. Ai biết nói với chúng, biết lắng nghe chúng, kẻ đó trải nghiệm chân lý. Chúng không giảng thuyết lý và đơn thuốc; không hề để ý tới điều đơn lẻ, chúng thụ giảng luật nguyên khởi của cuộc sống.


Một cái cây nói: trong tôi là một hạt, là một tia lửa, một suy nghĩ ẩn náu, tôi là sự sống của cuộc đời vĩnh cửu. Duy một lần sự gắng thử và sự sinh hạ người mẹ Thiên nhiên đã dám cho tôi, duy một lần là hình thù của tôi và những mạch máu ở da tôi, duy một lần trò chơi nhỏ nhất của lá trên ngọn và vết sẹo nhỏ nhất trên vỏ cây tôi. Chức vụ của tôi là trình bày và chỉ ra cái vĩnh cửu chính trong cái duy một lần in dấu.


Một cái cây nói: Sức lực của tôi là lòng tin. Tôi không biết tý gì về tổ phụ tôi, tôi không biết gì về hàng ngàn đứa con mỗi năm sinh thành từ tôi. Tôi sống cái bí mật của hạt mầm nơi tôi cho tới chót, và không gì khác là nỗi âu lo của tôi. Tôi tin tưởng rằng Chúa ở trong tôi. Tôi tin tưởng rằng, nhiệm vụ của tôi thiêng liêng. Từ sự tin cậy này tôi sống.


Nếu như ta buồn và không thể chịu đựng được cuộc đời này nữa, thì một cái cây sẽ nói tới chúng ta: Lặng im nào! Lặng im nào, hãy nhìn kỹ tôi đây! Sống không dễ, sống không khó. Đó chỉ là ý nghĩ trẻ con. Hãy để Chúa trong anh nói lời, chúng làm thinh như vậy. Anh sợ sệt, bởi đường anh đi rời xa khỏi mẹ và quê hương. Nhưng mỗi bước chân và từng ngày sẽ dẫn về đối diện mẹ. Quê hương không ở đây hay đó. Quê hương ở nội trong anh, hoặc không nơi đâu cả.


Nỗi nhớ lữ hành giày vò con tim, nếu như tôi lắng nghe cây trong buổi chiều xạc xào trong gió. Nếu người ta im nghe và lắng nghe lâu, thì nỗi nhớ của lữ khách cũng chỉ ra hạt nhân và ý nghĩa. Nó không phải là sự muốn tiếp tục chạy đi trước khổ đau, như đời hiển hiện. Nó là sự nhung nhớ quê hương, tới trí nhớ của mẹ, tới những dâu bể mới của cuộc đời. Nó dẫn về nhà. Mỗi con đường đều dẫn về nhà, mỗi bước chân là sinh nở, mỗi bước chân là cái chết, mỗi nấm mồ là mẹ.


Cây rì rào như thế trong chiều tối, nếu như chúng ta sợ trước những ý nghĩ con trẻ của riêng mình. Cây có những ý nghĩ dài, dài hơi và an tĩnh, như chúng có cuộc đời dài lâu hơn ta. Chúng thông thái hơn chúng ta, chừng nào chúng ta không nghe lời chúng. Nhưng mà nếu chúng ta đã học cách nghe cây ít nhiều, thì chính sự ngắn ngủi, sự nhanh nhảu và láu táu trẻ con trong suy nghĩ của chúng ta đã đạt thêm một niềm vui chưa từng có. Ai đã từng học cách lắng nghe cây, sẽ không còn thèm khát làm cây. Anh ta sẽ thèm khát là hư không của cái anh hiện hữu. Đó là quê hương. Đó là hạnh phúc.


Bản nguyên tác tiếng Đức Die Bäume sind wie große vereinsamte Menschen


Cây sồi bị chém


Họ đã chém mi cây ơi nên nỗi
Mi đứng lạ đời và kỳ cục sao
Nhường nào cây đã trăm bận đớn đau
Tới nỗi trong mi không còn chi ngoài ý chí
Và sự bất chấp. Tôi như cây đã không đoạn tuyệt
Với cuộc đời tan nát và dập vùi,
Mỗi ngày từ thô bạo đớn đau trải trong đời,
Lại nhúng trán vào vùng ánh sáng.
Cho đến chết thế giới từng nhạo báng
Những gì trong tôi yếu đuối mềm lòng
Thế đó bản thể tôi không thể diệt vong
Tôi đã hài lòng, đã cùng hòa giải,
Lòng kiên nhẫn nở thêm hoa trái
Từ những cành bầm dập trăm miền,
Và mặc cho nỗi đớn đau nguyên vẫn
Phải lòng yêu cái thế giới đảo điên.
Bản nguyên tác tiếng Đức Gestutzte Eiche


Những ngày mưa


Ánh mắt sợ sệt trong mọi góc cùng
Chạm vào những bức tường xám xịt
Và „mặt trời“ chỉ còn là một từ trống rỗng
Cây cối đứng và rét ướt và trụi trần
Những người đàn bà đi, trùm kín áo choàng
Mưa nối tiếp nhau, xạc xào vô tận.


Xưa khi đó tôi còn là cậu bé
Thấy bầu trời luôn trong sáng và xanh
Và mọi đám mây vàng bọc xung quanh
Mọi hào nhoáng biến đi, nay từ khi tôi có tuổi
Mưa xạc xào, thế giới này thay đổi.


Bản nguyên tác tiếng Đức Regentage


Những áng mây


Những áng mây, những con thuyền lặng lẽ
lướt qua đầu, xao xuyến lòng tôi
với những khăn voan màu diễm tuyệt
mềm mại tuyệt vời.


Từ khí quyển màu lam
một thế giới đẹp màu sắc dâng tràn
thường giam giữ tôi
bằng những vẻ quyến rũ bí huyền


Những ráng ùn lên rỡ ràng, trong sáng
nhẹ tênh tênh thoát mọi tục trần đây,
Phải mi là những giấc mơ sầu xứ
đẹp tươi nơi trái đất vọc vầy?


Bản nguyên tác tiếng Đức Die Wolken


Tối Nô-el


Tôi đứng lâu bên cửa sổ tối
Và nhìn thành phố tuyết trắng ngần
Và lắng nghe chuông tiếng vang ngân
Cho đến giờ tiếng chuông cũng tắt.


Hiện giờ đêm nguyên sơ, bình lặng
Trong tiết mùa đông lạnh như mơ,
Thức canh bởi vầng trăng bạc nhợt nhờ,
Soi vào nỗi niềm tôi đơn chiếc.


Giáng Sinh – Một nỗi nhớ quê nhà sâu thẳm
Bật kêu lên từ lồng ngực dày vò
Của tôi, tưởng nhớ thời yên tĩnh xa xưa
Bởi với tôi, những ngày lễ Nô-el cũng tới.


Từ dạo đó đầy nhiệt thành tăm tối
Trên đất này tôi xuôi ngược dọc ngang
Trong cuộc lữ hành nào có bình an
Tìm Hạnh phúc, Vàng kim và Thông thái.


Giờ đây mệt mỏi và buông xuôi, tôi nghỉ lại
Ở nơi ven lề cuối chặng đường
Và ở nơi xa miền xanh biếc, quê hương
Và tuổi trẻ nằm im như giấc mộng.


Bản nguyên tác tiếng Đức Weihnachtsabend


Những đứa con tháng Bảy


Chúng tôi những đứa trẻ sinh trong tháng Bảy
Yêu mùi hương hoa nhài trắng thơm nồng
Chúng tôi dạo nơi vườn thắm nở bông
Lặng lẽ chìm vào giấc mơ trĩu nặng.


Người anh em chúng tôi: hoa anh túc rực son
Cháy trong cơn giông bừng bừng đỏ lửa
Trên những bức tường bỏng và trên đồng lúa
Làn gió sau rồi cuốn những chiếc lá đi.


Như một đêm tháng Bảy, đời chúng tôi muốn
Kết điệu vũ vòng chở chất mộng mơ
Dâng hiến cho giấc mơ, nóng bỏng hội mùa
Trong tay lúa kết vành và hoa anh túc đỏ.


Bản nguyên tác tiếng Đức Julikinder


Mỗi buổi tối


Mỗi buổi tối bạn hãy nên kiểm nghiệm
Ngày nhật qua vừa ý Chúa hay không
Ngày có vui trong hành động và thủy chung
Hay thờ thẫn trong ăn năn và sợ hãi;


Cần gọi tên người yêu mình bạn hãy
Lặng trước mình thú nhận oán hận, bất công
Nên ngượng ngùng mọi tồi tệ ở thâm tâm
Mang vào giấc không mảy may bóng vởn;


Gạt khỏi tâm hồn mọi lo toan phiền muộn
Sao cho tâm hồn an nghỉ về xa vắng, ấu thơ
Được an ủi trong khoáng đãng tâm tư,
Bạn hồi tưởng điều yêu dấu nhất,


Nơi bà mẹ và thời ấu thơ qua mất
Hãy trông, sau đó lòng tinh khôi và bạn sẵn sàng
Uống sâu từ nguồn suối ngủ mát dòng
Nơi những giấc mộng vàng son vỗ về chào vẫy
Với giác quan tỉnh táo, bạn khởi đầu ngày mới dậy
Như một kẻ chiến thắng, một người anh hùng.


Bản nguyên tác tiếng Đức Jeden Abend


Anh cũng biết?


Anh có biết tới không, thư thoảng
Giữa một cơn cao hứng ngút ngàn
Lễ hội, trong một sảnh hân hoan
Bất chợt anh phải lặng câm và cất gót


Rồi anh không ngủ, dúi đầu vào ổ
Như một người, chợt trúng tim đau
Khoái trá và tràng cười như khói rã tan mau
Anh khóc, khóc không thôi – Anh cũng từng biết tới?


Bản nguyên tác tiếng Đức Kennst du das auch?


Ravenna


I.


Ravenna tôi xưa cũng viếng thăm
Thành phố nhỏ, một thành phố chết
Những nhà thờ và có nhiều phế tích
Trong sách người ta đọc biết điều này


Anh bước qua và nhìn tứ phía
Những con phố ẩm ướt, mịt mờ
Và vậy nghìn năm câm nín lặng tờ
Khắp nơi mọc lên rêu và cỏ.


Điều đó như những bài ca cũ
Người ta nghe và chẳng ai cười
Từng kẻ lắng nghe, và ca hát từng người
Cứ luân phiên tới đêm khuya khoắt.


II.


Đàn bà Ravenna ánh mắt thẳm sâu
Với cử chỉ dịu dàng họ mang trong ẩn mật
Một hiểu biết về những ngày nhật
Của thành phố cổ xưa và những hội hè.


Những người đàn bà Ravenna khóc
Như trẻ ít nói cười, sâu lắng, nhẹ êm
Và nếu họ cười, có vẻ hiển nhiên
Về lời buồn điệu ca sáng sủa.


Những đàn bà Ravenna cầu nguyện
Như trẻ con, đầy thỏa mãn, mến thương
Họ có thể nói lời yêu đương
Và bản thân không biết mình nói dối.


Những người đàn bà Ravenna hôn
Lạ lùng, thẳm sâu và dâng hiến
Với tất họ cuộc đời không lên tiếng
Chẳng chút gì, như ta phải chết đi.


Bản nguyên tác tiếng Đức Ravenna


Elisabeth


Xuân tinh sắc, sáng tươi thanh tú
Trên trán em, trên miệng và đôi tay
Phép lạ vàng son, anh tìm thấy đây
Ở Florence trên những hình ảnh cũ.


Em từng sống vào thời tiền sử
Em hình hài của tháng Năm tuyệt trần
Là nàng Flora trong xiêm chấm hoa vân
Vẽ nên em, Botticelli từng vẽ.


Cũng em là nàng, lời chào nhắn
Đã xiêu lòng Dante trẻ, thi nhân
Và vô thức nơi em đôi bàn chân
Biết con đường dẫn qua thượng giới.


Như một làn mây trắng
Dừng lại trên trời cao
Xa vời, ngần trắng, đẹp sao
Là em, Elisabeth.


Em vừa ngước nhìn để ý
Mây đi, du lãng lặng lờ
Vậy mà qua giấc em mơ
Mây đi trong đêm đen tối.


Mây đi lung linh ánh bạc


Không ngơi, không nghỉ dặm trường
Em mang sầu nhớ quê hương
Ngọt ngào theo làn mây trắng.


Bản nguyên tác tiếng Đức Elisabeth


Như một làn sóng


Như một làn sóng kết vành hoa bằng bọt
Từ ngọn triều lam đầy thèm khát dướn lên
Và mệt mỏi và đẹp đẽ lụi tàn trong đại dương –


Như một đám mây, trong gió nhẹ chèo lướt
đánh thức nỗi nhớ nhung tất cả khách hành hương
và nhợt nhạt ánh bạc tan vào ngày nhật –


Và như một khúc hát bên lề phố nóng
âm thanh lạ vang lên với những vần điệu diệu kỳ
và quyến rũ trái tim em vời xa qua miền đất –


Như thế cuộc đời tôi đưa thoáng qua thời gian
Chẳng mấy chốc tàn âm, mà thế kín như bưng
Rẽ vào vương quốc của nhớ nhung và vĩnh cửu.


Bản nguyên tác tiếng Đức Wie eine Welle


Những giờ đen tối nhất


Đó là những giờ khắc, ta không sao nắm bắt
Khuất phục ta xuống vực sâu cái chết
Và xóa sạch những gì an ủi ta hằng biết
Chúng nhổ bật máu từ lồng ngực của ta
Những bài ca thầm kín cùng gốc rễ xót xa.


Và thế đó là những giờ khắc, gánh nặng
Của chúng dạy cho ta điềm tĩnh và nội lực
Và chín muồi thành nhà thông thái và nhà thơ.


Bản nguyên tác tiếng Đức Dunkle Stunden


Tôi yêu đàn bà, những người nghìn năm trước


Tôi yêu đàn bà, những người nghìn năm trước
được các nhà thơ yêu dấu và ngợi ca


Tôi yêu những thành phố, lũy tường trống vắng
mặc tưởng những dòng tộc vua chúa thời xưa


Tôi yêu những thành phố, sẽ hồi sinh
Nếu hôm nay chẳng còn ai sống trên mặt đất


Tôi yêu những người đàn bà – mảnh mai, tuyệt diệu
Bướng bỉnh an nghỉ trong lòng năm tháng


Sẽ có ngày, với sắc đẹp nhạt nhòa tinh tú
Họ sánh cùng vẻ đẹp của những giấc mơ tôi.


©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức Ich liebe Frauen, die vor tausend Jahren


Bạn đọc có thể xem thêm bài thơ Trong sương mù và bài thơ Tháng Chín của Hermann Hesse.

 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email



Những bản tin khác:
Chùm thơ Hungari (23.07.2015 20:55)
Mạc Ngôn trong Biến (23.02.2014 19:37)



Lên đầu trang
Các bản tin mới đăng
Quê tôi - Tản văn của Nguyễn Công Tiến (CHLB Đức)
Đặng Xuân Xuyến: Đọc “Mợ Hữu” của Trần Nhuận Minh
Chùm thơ Quang Nguyễn
­­­­­Lưu Quang Vũ – một hồn thơ giàu cảm hứng sáng tạo (Đoàn Trọng Huy*)
Xuân Quỳnh – Lưu Quang Vũ cặp đôi thiên sứ ( Đoàn Trọng Huy*)
Châu Hồng Thuy: HOA GƯƠNG HÌNH MẶT TRỜI - Truyện ngắn song ngữ Việt - Nga
Phan Nam: Sinh ta từ cánh đồng làng
VĨNH BIỆT NHÀ THƠ VŨ ĐÌNH HUY
Ngô Minh: CHUYỆN “...NGƯỜI YÊU NƯỚC MÌNH ”
Trần Vàng Sao, một chút kỉ niệm - hồi ức của Trương Duy Nhất
Tin cùng chủ đề
Các nhà thơ giải Nobel
Astrid Lindgren- Nữ văn sĩ của trẻ em
Quỳnh Dao – Tình yêu vẫn còn nồng nàn
'Đồi gió hú' là chuyện tình đẹp nhất mọi thời
Những người tình của Victor Hugo
Tiểu thuyết Kim Dung: Cuộc 'đại phẫu thuật lần thứ ba'
"Biểu tượng đã mất" - sách bán chạy nhất của Dan Brown trong tháng 9
Thành Long: Đa tài và... đa tình
Tâm sự tuổi già - đôi điều cảm ngộ (Dương Trạch Tế - Trung Quốc)
'Tôtem sói' đoạt giải Booker châu Á
 
 
 
Thư viện hình