Tin tức  |  Diễn đàn  |  Thư viện hình  |  Liên hệ
Thứ sáu,
15.12.2017 19:43 GMT+7
 
 
Kho bài viết
Tháng Mười hai 2017
T2T3T4T5T6T7CN
        1 2 3
4 5 6 7 8 9 10
11 12 13 14 15 16 17
18 19 20 21 22 23 24
25 26 27 28 29 30 31
 <  > 
Nhận thư điện tử
Email của bạn

Định dạng

Thành viên online
Thành viên: 0
Khách: 1
Số truy cập: 878260
Tin tức > Nghiên cứu-Phê bình-Chân dung > Xem nội dung bản tin
Trần Thiện Huy: Đi xa hơn Balzac – chỗ đứng ít được ghi nhận của Vũ Trọng Phụng trong văn chương hậu thuộc địa (P2)
[28.11.2017 17:56]
Xem hình

(Tiếp theo kỳ trước)
Ông Typn là người Việt duy nhất “không có tên Việt” trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng. Giữa thời kỳ thử nghiệm của văn học và truyền thông bản xứ, đó chưa phải là tội nguyên tổ của sự lố bịch, nếu ta nhớ lại Đái Đức Tuấn, một nhà văn tinh thông Hán học, đã lấy bút hiệu Tchya (tôi chẳng yêu ai) và họa sĩ Trần Quang Trân ký tên Ngym (người yêu mợ).

Bản chất sự hoạt kê trong nhân vật Typn là sự khoa trương ồn ào và kiêu căng ở đầu cuốn tiểu thuyết, tương phản với thái độ “nịnh thần và nô lệ” ở cuối truyện. Chi tiết sau là tính cách của riêng nhân vật, không nhất thiết điển hình cho mẫu nhân vật này nói chung. Thật ra, bằng vào sự nghèo khổ của giới trí thức chung quanh ông, có lẽ Vũ Trọng Phụng cũng phải thú nhận rằng các cựu sinh viên Cao đẳng Mỹ thuật thường không phải những người thông thạo khoa xu nịnh người giàu.

“Luận điệu về ngoại nhân/ ngoại giới là một cuộc thông dịch”, nói như Francois Hartorg; khi thay thế sự diễn giải chủ quan của Vũ Trọng Phụng (một phần do ông cố ý, một phần do độ lệch ngữ cảnh không thể tránh khỏi), một chân dung sát thực tế hơn và có tính thời đại hơn dần được bộc lộ ra. Typn có thể là một nhân vật khoa trương và theo thời, nhưng ông ta không phải là một nhân vật trưởng giả – thật ra, ông ta có nhiều điểm chung với Vũ Trọng Phụng hơn nhà văn muốn nhìn nhận, và trong bối cảnh thế giới thuộc địa, Typn gần như có thể coi là một hình mẫu phản trưởng giả. Khi đọc những diễn ngôn từ thuộc địa, người diễn dịch phải làm công việc mà Foucault gọi là khảo cổ tri thức, và phải xét đến bản chất của sinh hoạt trí thức thuộc địa như một tổ hợp những mô phỏng theo Tây phương dựa trên thông tin thiếu sót và lệch lạc góp nhặt được từ truyền thông và nhân chứng về chính quốc. Về mặt này, chế diễu Typn cũng là một trò chơi mang định hướng hậu thuộc địa, theo cái nghĩa là phê phán một sản phẩm của thời đại, của sự lý tưởng hóa vị thế cá nhân, và cuộc chạy đua lấy cảm hứng từ đỉnh Olympic để nổi bật lên khỏi đám đông như mục đích tối hậu của hoạt động trí thức.

Trong cuốn Các gốc rễ của chủ nghĩa lãng mạn, Isaiah Berlin đã chỉ ra hai mệnh đề, được coi như hai bậc thang trong tư tưởng Tây phương đã dẫn tới chỗ hình thành chủ nghĩa lãng mạn, nhưng nhìn xa hơn, có thể coi như một khái quát hóa về tiến trình lịch sử tư tưởng phương Tây nói chung. Đó là mệnh đề về ý lực tối hậu, và về thế giới bất định.

Xuyên suốt qua thời Trung cổ cho đến kỷ nguyên thực dân, tư tưởng Trung Hoa ít nhiều mang màu sắc nhất nguyên luận, với mô hình một vũ trụ tự nhiên có khuynh hướng luôn trở về trạng thái quân bằng, ổn cố. Chức năng của tri thức trong một mô hình như vậy chính là để góp vào việc phục hồi và ổn định hiện trạng quân bằng. Niềm tin vào mô hình đó đã bị làm rung chuyển và sau cùng là sụp đổ khi phải đối mặt với lực lượng vật chất của văn minh Tây phương. Quá trình va chạm văn hóa này được Lỗ Tấn khắc họa lại một cách ẩn dụ trong truyện ngắn “Trường minh đăng”, trong đó nhân vật trí thức trẻ, mang tâm chất nổi loạn, hô hào dân chúng thổi tắt cây đèn theo truyền thuyết đã tồn tại ngàn đời, được coi như thần vật bảo vệ cho dân làng khỏi tai ương hồng thủy.

Ngược lại, với văn minh Tây phương, ngay từ trong ý thức hệ thần quyền thời Trung cổ đã hàm chứa quan điểm ý lực chủ quan. Vũ trụ Tây phương không phải là một Đại tự nhiên, mà là một tác phẩm của đấng sáng thế mang hình ảnh con người. Để biện minh cho ý định khái quát hóa những nhận định về chủ nghĩa lãng mạn lên cho cả văn hóa châu Âu, chỉ cần nhớ lại là trong khuôn khổ sự khuất phục Thiên chúa giáo, vẫn mọc lên những nhà cách mạng như Savonarola, Francis xứ Assissi, cho đến Luther, hay các giáo phái từ Cathars cho đến Dương thân – mỗi một sự xuất hiện là một quan điểm mới về giáo lý và vũ trụ quan với ý định lật ngược hoàn toàn các quan niệm phổ biến. Thời đại Khai sáng thiết lập sự độc tôn của khoa học tự nhiên, nhưng khuôn mẫu nhân văn nó lập ra nhanh chóng bị thử thách bởi kỷ nguyên lãng mạn, rồi hiện đại Lịch sử Tây phương suốt từ Trung cổ là lịch sử của sự tái tạo liên tục lại hình ảnh thế giới và các giá trị.

Phỏng theo khái quát hóa của Berlin về chủ nghĩa lãng mạn, có thể nói, với văn minh phương Tây, không có ý nghĩa nào quan trọng hơn khả năng của con người tạo ra các ý nghĩa. Thế giới đối với đa số tư tưởng gia châu Âu luôn là một tồn tại ngoại thân bí hiểm; càng tìm hiểu, nó càng lộ ra một diện mạo biến động, bày ra những áp đặt mới, những phủ nhận và khẳng định mới – một công trình không ngừng tự sáng tạo. Do đó, thái độ hiểu biết đối với người phương Tây, dù hướng nội hay hướng ngoại, là hòa vào trong nhịp độ sáng tạo ấy, là thiếu kiên nhẫn với sự sáo mòn, khinh miệt đám đông, là không ngừng biến cải, làm bất ngờ, gây tranh cãi, và tham gia vào tiến trình luận chứng vĩ đại đan chéo những đấu tranh và tìm kiếm.

Thái độ trí thức phương Tây vào thời đầu thế kỷ ảnh hưởng nặng những quan điểm khinh bạc tự tôn như của Gautier: “những gì hữu dụng đều xấu xí”. Henry Murger ca ngợi những người nghệ sĩ lang thang: “cuộc sống mỗi ngày của họ là tác phẩm thiên tài,” nếp sống mà theo ông, “là dẫn nhập hoặc đến viện Hàn lâm nghệ thuật, hoặc nhà thương và nhà xác”. “Bao giờ bọn nghệ sĩ chúng tôi được – bị bỏ tù như thế”, cái mà Vũ Trọng Phụng mô tả như sự khoa trương của ông Typn có lẽ trên thực tế là sự kính phục thành thực và ngây thơ đối với hình tượng người trí thức bị xã hội ruồng bỏ và sợ hãi, hắt cái bóng lớn lao sừng sững trên thế giới của ông ta. Nếu tiến lên ôm ấp cái chết tử đạo là biểu hiện cao quý của chủ nghĩa cấp tiến, thì làm cho xã hội rúng động là huyền thoại của tầm vóc trí thức. Người trí thức châu Âu khoảng đầu thế kỷ 20 vẫn còn cảm thấy trong huyết mạch những rung động của kiêu hãnh giai cấp vì sự hằn học của thủ tướng Clemenceau với danh từ “un intellectuel”; vẫn nhớ sự chế diễu của nhà quý tộc người Áo nào đó khi nói về cách mạng Nga “thế thì ai sẽ làm cuộc cách mạng đó, cái ông Trotsky vẫn ngồi ở quán Café Central ư?” Khi đứng bên lề phố trình diễn những cử chỉ cao cả, có lẽ cả nhà báo lẫn họa sĩ trong đầu đang có hình ảnh phiên tòa của Galileo, của Goya, hay Gramsci[5] – những con người được ca ngợi nhờ bị cô lập và bách hại.

Thái độ của Typn “người khác thì được, mà mợ, mợ là vợ tôi, thì mợ không thể tân thời như người khác được!” hẳn sẽ đập ngay vào mắt một nhà phê bình nữ quyền như một tình tiết đầy giá trị tố giác. Nhưng mô hình nữ quyền ở đây không giải quyết được thỏa đáng mâu thuẫn nhân vật. Không có bằng chứng nào Typn là một người đã cạnh tranh về mặt tính dục một cách bất chính với các ông chồng khác, và áp đặt nghĩa vụ một chiều lên vợ mình nhờ cái dù của phong trào Âu hóa – nói cách khác, ông ta không hiện ra như một người đạo đức giả theo chủ nghĩa phụ hệ. Thật ra, Typn biểu tượng cho một sự lúng túng thì đúng hơn là sự chuyên chế của thời đại; những trải nghiệm phổ biến được tổng hợp nên nhân vật Typn có tính chất “địa tầng” và được khai quật qua việc phác họa bối cảnh xã hội Đông dương thời những năm 30, về bản chất như một vùng giao thoa giữa hai nền văn hóa “mẫu quốc” và bản xứ.

Những người tây học được huấn luyện để thần tượng những hình mẫu trí thức phương Tây, nhưng phải mang hằn sâu trong lòng một cảm thức bị ruồng bỏ, coi nhẹ, vô nghĩa đối với các trung tâm văn hóa. Họ khao khát muốn được vươn ra nối liền với phương Tây thành một tập thể đồng nhất những con người ngang hàng về phẩm giá, được có chỗ đứng của mình trong vầng sáng phù hoa chỉ dành cho người da trắng, như nhân vật Hộ trong “Đời thừa”:

Một tác phẩm thật giá trị, phải vượt lên bên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người. Nó phải chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình… Nó làm cho người gần người hơn. Như thế mới thật là một tác phẩm hay, các anh có hiểu không? Tôi chưa thất vọng đâu! Rồi các anh xem… Cả một đời tôi, tôi sẽ chỉ viết một quyển thôi, nhưng quyển ấy sẽ ăn giải Nobel và dịch ra đủ mọi thứ tiếng trên hoàn cầu! (Nam Cao)

Tuy nhiên, họ vẫn phải sống với mô hình gia đình và xã hội đã tồn tại ít nhất hàng trăm năm, sống với những ước lệ mang hiệu lực trừng phạt theo mô hình ấy về quyền hạn và bổn phận của các thành viên. Đọc những hồi ức về cuộc đời các nhà văn, thơ tiền chiến, người ta cảm giác được một trạng thái song trùng hay phân liệt giữa con người riêng tư chìm đắm trong những ý tưởng tân tiến, khích động, và con người quy ước được bày ra trong mọi quan hệ đời thường. Bản thân Vũ Trọng Phụng, cũng như Nhất Linh, Khái Hưng – những con người đầy dẫy ý tưởng cấp tiến – đều có những người vợ cổ điển, lặng lẽ phục tùng[6]; Hoàng Đạo sống nhẫn nhịn trong bối cảnh ở rể; nhà thơ có thi pháp ngông cuồng phóng túng như Vũ Hoàng Chương ngày thường cũng yên phận làm một công chức, ra ngoài thường mặc khăn đóng áo dài[7], v.v. Bao phủ họ là một xã hội cổ truyền nặng nề mặc cảm bất an, bất lực, cố tự vệ bằng một thứ sinh chính trị (bio-politics) khắt khe mà bằng con đường giáo dục đã ít nhiều được nhập tâm trong mỗi người có học thức để thành quan niệm phổ biến và phản xạ tự giác, tự tồn.

Bản thân Vũ Trọng Phụng, xuyên suốt qua các tác phẩm của ông, cũng vấp phải sự lúng túng. Sự hưởng ứng của ông đối với học thuyết Freud có thể được diễn dịch, theo cung cách hậu hiện đại, như sự tiếp nhận nhiệt thành một ngã rẽ thời đại mà Foucault đã nhận diện: “động cơ đấu tranh tính dục – đòi hỏi được tự do tính dục, đồng thời được hiểu biết và phát biểu về nó – được công nhiên nối kết với sự tôn trọng trước đó giành cho động cơ đấu tranh chính trị: tình dục cũng được đặt trong nghị trình cho tương lai.”[8] Ông cho sự “đạo đức giả” của những người như Typn trong vấn đề giải phóng tình dục là dấu hiệu sự nông cạn của dân An Nam không tiến hóa nổi theo thực chất tư tưởng mới mà chỉ chạy theo biểu hiện thời thượng:

Thật thế, tôi tin rằng đất Đại Cồ Việt ta là cái đất cằn cỗi, những lý thuyết và tư tưởng ở đâu đâu, tốt đẹp thế nào mặc lòng, cũng cứ đến đây là thành thối nát. Tôi không tin dân An Nam ta lại có nổi một điều tín ngưỡng nào, một quan niệm chắc chắn gì. Bởi thế, con người Âu hóa cực đoan ấy chỉ Âu hóa được ở cái lỗ mồm mà thôi (“Từ lý thuyết đến thực hành”).

Nhưng chính Vũ Trọng Phụng lại lúng túng không biết những lý thuyết Âu hóa ấy có thật sự “tốt đẹp” và đáng theo đuổi trong nhiều trường hợp. Chẳng hạn, vừa cười diễu nhân vật trong “Từ lý thuyết đến thực hành” không làm nổi điều anh ta rao giảng, cụ thể là chấp nhận chuyện vợ mình ngoại tình, ông vừa mỉa mai để cho một nhà báo khoe khoang:

Thế bà xem xã hội bây giờ tiến hoá đến đâu? Bà có đọc báo hàng ngày đó không? Bao nhiêu vụ ly dị! Bao nhiêu cuộc ngoại tình!

Roland Barthes sẽ nhắc nhở chúng ta, văn bản không lệ thuộc, hay thậm chí không cần đến, tác giả. Sự lúng túng, tự mâu thuẫn của Vũ Trọng Phụng và nhiều người cùng thời chính là sự mâu thuẫn giữa cùng một con người trong vai trò người đọc và người viết. Họ hứng khởi với những lý thuyết, lập luận ngoại lai, nhưng lại “phản bội” ngay chúng trong cuộc sống riêng và trong tác phẩm của chính mình khi tác phẩm đã phát triển đủ xa để nảy sinh một sự sống hữu cơ, trong đó không cần và không có chỗ cho tác giả áp đặt ý lực chủ quan võ đoán.

Hậu thuộc địa lý giải sự bất nhất của Vũ Trọng Phụng bằng ý niệm về sự sao chép khuôn mẫu diễn ngôn xuất xứ từ thượng tầng kiến trúc hệ thống thuộc địa, trong ý tưởng của cả hai bên đối lập, thực dân và bị trị. Diễn ngôn chủ nghĩa thực dân là những tri thức và quan niệm hỗ trợ cho việc chiếm hữu và cai trị các xứ ngoại bang – chiến thắng về vật chất ban cho người ta tư thế nắm giữ chân lý. Trong trường hợp lý thuyết ngoại tình, thay vì chất vấn tính khả thi và hợp luân thường của nó, Vũ Trọng Phụng đã giải thích sự thất bại không thực hiện nổi lý thuyết này bằng luận điệu về sự kém cỏi của người An Nam. Nhưng khi ông bắt tay vào xây dựng một cốt truyện châm biếm chặt chẽ, sinh động, sự hợp lý của cuộc sống thực, chứ không phải là những định kiến mang màu sắc lý thuyết, càng lúc càng tự kết cấu lại chặt chẽ hơn và nắm giữ vai trò hướng dẫn – đi đến kết quả là tiểu thuyết của ông có nhiều chất liệu độc đáo và ít tính khiên cưỡng hơn hẳn truyện ngắn (mà ta có thể coi như mảng văn chương luận đề của ông), và có lẽ bảo thủ/bài Tây phương hơn chủ ý.

Giữa một thời đại mới vừa khám phá (hoặc phát minh, như Foucault sẽ nói) ra vai trò của tính dục như nền tảng xã hội, và vật lộn với vấn đề này với tất cả năng lực tinh thần của nó, Typn, với sự bất nhất, viển vông và lập dị của ông ta, chính là một sáng tạo biếm họa lờ mờ hình bóng những người đương thời và chính bản thân Vũ Trọng Phụng. Cùng với tính phóng đãng của bà Phó Đoan, sự giáo điều của đốc tờ Trực Ngôn, và lòng ghen tuông của Liêm trong Lấy nhau vì tình, Typn và những hệ lụy xung quanh nhiệt tình của ông ta đối với phô bày thân thể phản ảnh sự rối loạn trên các phạm trù xã hội khác đang lúng túng và cuống cuồng tự điều chỉnh trước sự ám ảnh của Tây phương với đề tài tính dục (với việc thảo luận về nó, xưng tụng nó, chạy đua giải phóng nó, cũng như định hướng nó) và sự nâng cấp tính dục lên thành một phạm trù chủ đạo trong bản thể thế kỷ 20.

***

Trở lại với nhân vật anh chàng xem tranh trong truyện ngắn “Hai vẻ đẹp” đã giới thiệu ở trên. Đây là tất cả những gì Nhất Linh nhìn thấy từ anh ta, dựa trên hai dữ kiện là việc anh ta đến xem vẽ tranh hàng ngày, và ra đình bàn việc làng (trong đó có việc đào giếng theo ý thày địa lý):

Chàng không thể nào tưởng tượng được rằng một cậu học trò lớp nhất mới sau có ba năm đã biến thành một anh kỳ mục vớ vẩn, ngu tối hình như cả đời chưa bao giờ cầm đến cuốn sách.

Lịch sử cuộc vùng dậy của kinh tế Á châu, đã bắt đầu khoảng gần 100 năm ở Nhật bản trước khi truyện ngắn trên được đăng tải trên báo Đời nay (1934), kéo dài cho đến ngày nay, và thế hệ chúng ta có điều kiện nhận xét tổng thể, hẳn đã va chạm mạnh với cái nhìn của Nhất Linh, nếu ông đã có cơ hội quan sát vận động của nó trong thực tế. Thật vậy, ngoài một số nhỏ tài năng và nhân vật chủ chốt, những người đã tạo nên chuyển động cho các guồng máy được thiết kế theo cái mà Thủ tướng Lý Quang Diệu và nhiều lãnh tụ gọi một cách tự chúc tụng là “mô hình châu Á” bằng những cánh tay của mình, lại mang bóng dáng không ai khác hơn chính là anh chàng xem tranh của ông. Kiên nhẫn, hiếu kỳ, ít tham vọng, phục tùng truyền thống và dễ sai bảo, không có nhiều ý niệm về giá trị cá nhân – từ con người anh ta, ta dễ dàng nhận ra hình mẫu của những nhân công ở vào buổi đầu mọi công cuộc hiện đại hóa. Nhận xét về xã hội phương Đông như một môi trường nơi “cá nhân bị chìm đắm, tiêu tán trong đoàn thể… vận động như cái máy, không có biểu hiện đặc biệt, không có quyền lợi tây riêng gì cả”, tác giả Pháp Crayssac trên tờ Nam Phong năm 1923 đã có một cái nhìn theo chủ nghĩa công dụng phần nào viễn kiến khi ông ta so sánh xã hội phương Đông với La Mã cổ, nền văn minh mà nhờ hình thức tôn giáo của nó “dân La Mã biết trọng nghĩa vụ, quen thói phục tòng, một lòng trung thành với quốc gia, nhân đó mà có ảnh hưởng to về sự phú cường của nhà nước” (Nam Phong số 78).

Sự đối lập giữa hai cung từ lịch sử, giữa giọng điệu u uất của chủ nghĩa cách mạng cực lý tưởng (một từ ngữ chính xác hơn không tưởng) với sự hồ hởi kéo dài hơn một thế kỷ dựa trên dự phóng kinh tế chính trị tư bản, đại diện cho mâu thuẫn trừu tượng và cảm tính đối nghịch với vụ thực và duy lý; giữa chúng không có sự phân chia đúng/sai (cũng như ta không thể so sánh táo với cam), lại càng không có sự phân chia Đông/Tây. Cả hai đều là những hình thái biểu hiện của ý thức hệ phương Tây, cụ thể là ý thức hệ về đóng góp của phương Tây cho loài người, về sự ưu việt của phương Tây so với phương Đông, về nhu cầu khai hóa các xã hội truyền thống. Đấy cũng chính là ý thức hệ đã tạo ra hiệu ứng chủ nghĩa quốc gia được thể hiện trong bài “Thoát Á luận” của Fukuzawa Yukichi, và ý định cạnh tranh với phương Tây giữa kỷ nguyên đế quốc, dẫn đến quá trình quân phiệt hóa và đế quốc hóa, cùng với sự chà đạp các nước phương Đông, của Nhật bản. Khả năng thành công cao nhất của các hình thức công phá hệ thống nhân văn thuộc địa mang hạn chế về ý thức hệ như vậy là đi đến chỗ thay thế người cũ bằng các phiên bản thực dân da vàng.

Chủ nghĩa thực dân tồn tại từ trong quan niệm rằng có những phạm trù luân lý và lý trí tiên thiên, hoặc những “thành quả kết tinh của trí tuệ loài người” tự được chứng minh không thể tranh cãi. Trên thực tế, từ tiền đề không một tương tác nào giữa con người mà không tiềm ẩn quan hệ quyền lực cho phép một bên được lợi ích lớn hơn, sự đồng nhất về quyền lợi và ý thức giữa người với người là một hư cấu trong mọi trường hợp. Với bài giảng “Xã hội phải được bảo vệ”, Foucault đã đưa ra nhận xét sau: trong một thực thể bao gồm hai nhóm khác biệt văn hóa, được quy tụ ban đầu bằng bạo lực, vẫn coi như tồn tại hai chủng tộc. Hai chủng tộc đó duy trì hai diễn ngôn khác nhau, và hai dị bản của một lịch sử (trong điều kiện lý tưởng), hoặc một lịch sử chính thống bị đối kháng. Cho đến khi tượng tổng thống Lincoln bị đốt trong khu dân da đen ở Chicago tháng Tám vừa qua, người ta mới hiểu rằng diễn ngôn chính thống coi Lincoln như người giải phóng nô lệ đáng được ghi ơn không phải là điều mọi người da đen nhìn nhận.

Bảo thủ vs. cấp tiến là những khái niệm chỉ tồn tại trong hệ hình chính trị Tây phương, một lằn ranh long trọng nằm gần như trùng lên lằn ranh phân chia tả/hữu. Đem nhập cảng những nhãn hiệu này vào một nền văn hóa khác là tạo ra những sự rối trí và giới hạn không cần thiết cho cả việc quan sát lẫn hành động, làm giảm đi ý nghĩa của khả năng quyết định độc lập và đa chiều của hữu thể có ý thức. Trở lại ví dụ từ những người da đen, nạn nhân lịch sử và người thừa kế của một thứ thuộc địa tồn tại ngay trên đất Mỹ. Theo quan niệm phổ biến, họ là những người được nhận lợi ích từ cánh tả (trong đó có những chiếu cố để củng cố quyền hạn và vị thế bình đẳng cho họ), và vì vậy, là khối nhân lực tự nhiên sẽ hỗ trợ chính trị của cánh tả. Nhưng những xung đột sắc tộc gần đây đã tạo điều kiện cho sự ló dạng của một diễn ngôn thay thế, điển hình như trong cuộc phản đối buổi thuyết trình về tự do ngôn luận của Liên đoàn Tự do dân sự Mỹ (ACLU) do phong trào Mạng người da đen cũng quý (Black Lives Matter) kêu gọi; các người biểu tình đã hô khẩu hiệu như “chủ nghĩa cấp tiến là sự độc tôn da trắng, hoặc “những người bị áp bức không hài lòng”. Đấy là những vết nứt rạn trong cái nhìn bề mặt về chính trị Mỹ được cấy vào tâm thức quần chúng suốt hàng thập kỷ qua, được tạo ra do những vận động trái chiều của thứ văn hóa nhóm (subculture) và chính trị bản sắc hiện diện giữa những cộng đồng da đen. Khi bất cứ khái niệm nào – tự do, dân chủ, nhân quyền, quốc gia dân tộc – được nhìn nhận như thuộc về một giá trị phổ thông và vĩnh viễn, trong đó đã có một vận động quyền lực để đàn áp đi những diễn ngôn thứ yếu không hoàn toàn có cùng quan niệm; đấy là góc độ nhìn nhận vấn đề của hậu hiện đại và hậu thuộc địa.

Gọi Vũ Trọng Phụng là người bảo thủ, không có nghĩa ông có những quan điểm chính trị xa xỉ chỉ dành cho công dân các mẫu quốc, chẳng hạn như về chi tiêu ngân sách. Ông cũng không ca ngợi văn hóa cổ truyền để vô hình chung trở thành một công cụ trong chính sách cai trị của toàn quyền Pasquier: “chúng ta cũng phải duy trì ở xứ An Nam những bài thơ êm dịu, những hình ảnh tế nhị, những câu hát đối của trai gái buổi chiều hè, những thày đồ vuốt bộ râu dài và những quan lại trong bộ quần áo cổ kính và rực rỡ của họ”[9] – thành một thứ Phạm Quỳnh thứ hai. Sự bảo thủ của ông nằm trong tính cách bài ngoại, và sự phá hủy những khuôn mẫu. Ông viết về cách mạng, về trí thức, về lý tưởng, văn minh, bình dân, cấp tiến theo một cung cách vi phạm hoàn toàn những ước lệ của thời đại buộc người ta phải hiểu những ý tưởng ấy như thế nào, và “bắt chúng nói tiếng Việt”, nhờ đó làm đậm lên những nét dễ bị lạm dụng hoặc biến tướng bởi đủ loại người, từ Nghị Hách tới cụ cố Hồng. Đánh giá tầm mức của ông bằng cách so sánh ông như một Balzac Việt Nam, ý tưởng của một nhà phê bình Mỹ, là một phát biểu không có ý nghĩa nhiều: trong khi Balzac là một nhà tả chân, Vũ Trọng Phụng gần như đã sáng tạo ra nhiều thế giới bên trong các thấu kính.

Trong luận văn “Orpheus đen”, Sartre đã đưa ra một hướng dẫn chiến lược cho công cuộc giải phóng thuộc địa: “Sự liên kết nhất định rồi sẽ đến, để đưa mọi dân tộc bị áp bức vào cùng một cuộc đấu tranh, ở các thuộc địa sẽ phải đến sau cái mà tôi gọi là giai đoạn phân hóa, hay phủ định: sự kỳ thị chủng tộc để chống kỳ thị này sẽ dẫn tới cái đích xóa bỏ mọi khác biệt chủng tộc”. Đây là biện pháp đảo ngược tất cả lý luận của chủ nghĩa thực dân, kể cả trên bình diện danh nghĩa lẫn thực tế. Sự bình đẳng giữa các dân tộc trên danh nghĩa và sự tự tôn của người da trắng trên thực tế chính là những nền tảng về mặt chủng tộc đã giữ cho chủ nghĩa thực dân chỗ đứng vững chắc ngay trong tâm thức các dân tộc thuộc địa – theo Sartre, sự tự tôn ngược, kỳ thị ngược là bậc thang cần thiết để nâng ý thức đấu tranh của các sắc dân quen bị ngược đãi. Viết ra những dòng này như một triết gia suy nghiệm, Sartre không hề dựa trên kinh nghiệm lịch sử, hay điều kiện chính trị thực tiễn nào, và trên thực tế, trên địa hạt chính trị có tổ chức, chưa hề có bóng dáng thứ gì giống như một phong trào Sartrean; nhưng tư thế mà ông đưa ra là một khả thể đối với các nhà văn, những con người có vị thế độc lập trước mọi món nợ quyền lực và chủ đích giữ cho mình như vậy vì chân trời vô tận của ngòi bút. Chiến lược Sartrean chính là ý nghĩa di sản Vũ Trọng Phụng để lại cho cuộc đời.

[1] Theo bản dịch của Nham Hoa. Nguyên văn dịch giả dùng chữ “ý niệm”, trong bài này đã đổi thành “ý tưởng”.

[2] Nhất Linh, Viết và đọc tiểu thuyết

[3] Một bằng chứng cho nhận xét này là việc cuốn Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan có nội dung gần như trùng hợp với nội dung cuốn tiểu thuyết xuất bản năm 1920 Từ ruộng lên núi của Jean Marquet, một quan lại Pháp. Cuốn này được giải thưởng của bộ Thuộc địa và được Phạm Quỳnh giới thiệu như một nỗ lực tạo ra sự thông cảm giữa hai dân tộc, đi đến chỗ Pháp Việt đề huề.

[4] Vẫn có khả năng không thể loại trừ là Vũ Trọng Phụng bị ảnh hưởng những lý tưởng về “người hùng” kiểu Dumas và Lê Văn Trương. Nhưng Giông tố là một tác phẩm chứa đựng nhiều nghịch lý về nhân vật đến mức ta không thể tin vào sự “thật thà” của Vũ Trọng Phụng khi xây dựng những nhân vật này. Chẳng hạn như lời nói của viên quan huyện thanh liêm và lý tưởng lại đậm chất chính trị quan trường: “quan thày của tôi trong đảng xã hội, nay mai mà có sang nhận chức toàn quyền, thì lúc ấy tôi lại sẽ làm quan cũng không muộn ạ. Mà nếu có phải làm quan, tôi sẽ cũng không làm quan huyện nữa”.

[5] Phiên tòa Gramsci là điển hình của một hiện tượng đặc thù cho thời kỳ xung quanh đầu thế kỷ 20, và khó thấy ở thời điểm khác, khi mà nhà cầm quyền nhìn nhận sự nghiêm trọng của nguy cơ bị phản kháng về tư tưởng. Phát biểu của biện lý “chúng ta hãy làm cho bộ óc này không thể hoạt động trong hai mươi năm” gợi nhớ đến báo cáo của một viên mật vụ Nga về Lenin: “tôi đã báo cáo, không phải chỉ một lần, với ngài thanh tra: xin ngài để ý, đừng để điều gì xảy ra từ những thứ y viết”.

[6] Đặc biệt, Vũ Trọng Phụng dường như có ác cảm mạnh với trào lưu giải phóng phụ nữ. Trong truyện ngắn “Lấy vợ xấu”, ông mỉa mai việc nhân vật để răng trắng như một sự làm dáng quá trớn. Tuy không tự mâu thuẫn ngay trên cùng một bình diện như Typn, ta cũng có thể thấy được một khoảng cách giữa thái độ xã hội bảo thủ này của ông và thái độ táo bạo ông thể hiện khi viết những phóng sự bị cáo buộc là “dâm thư”.

[7] Theo hồi tưởng của Hoàng Như Mai và một số nguồn khác.

[8] Foucault, Lịch sử tình dục.

[9] Trích trong Chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam của Nguyễn Văn Trung.


Nguồn: Damau.org

 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email



Những bản tin khác:
Nhà văn ma (19.10.2017 01:46)



Lên đầu trang
Các bản tin mới đăng
Thông báo mời dự tọa đàm giới thiệu Văn hóa tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam Phủ của người Việt Nam
Thụy Khuê: Nói chuyện với dịch giả Trần Thiện Đạo
Dịch giả Trần Thiện Đạo vừa qua đời tại Paris
Thụy Khuê: Trần Thiện Đạo, lần gặp cuối
Nguyễn Thuỳ: Ðôi mẩu chuyện về Bùi Giáng
Chùm thơ Vũ Thương Giang (Ucraina)
Đinh Văn Đức: Mười năm mất nhà ngữ học Cao Xuân Hạo -Nhớ về anh Cao Xuân Hạo
Tổng tập về rươi
Bạch Y Ngũ Bút: Thú chơi hoa "điếc không sợ súng" của Vương phu nhơn (phần 2)
Bạch Y Ngũ Bút: Thú chơi hoa "điếc không sợ súng" của Vương phu nhân (phần 1)
Tin cùng chủ đề
Lặng lẽ Nguyễn Thành Long
Hoàng Đức Lương - Quan niệm thi học và thơ
Nguyễn Bảo Sinh-nhà thơ dân gian có chất “Bút Tre”
Lần theo mối tình Chí Phèo - Thị Nở
Trí khôn nhà văn ở đâu?
Nhà thơ Việt Phương: “Nhân chi sơ, tính…phức tạp”
CHÂU HỒNG THUỶ: Nếu tôi là Puskin
Một người Việt làm thơ bằng tiếng Nga
Phê bình văn học - Trường hợp Trương Tửu
Lưu Quang Vũ và một quãng đời, một quãng thơ thường bị bỏ quên
 
 
 
Thư viện hình