Tin tức  |  Diễn đàn  |  Thư viện hình  |  Liên hệ
Thứ sáu,
15.12.2017 20:08 GMT+7
 
 
Kho bài viết
Tháng Mười hai 2017
T2T3T4T5T6T7CN
        1 2 3
4 5 6 7 8 9 10
11 12 13 14 15 16 17
18 19 20 21 22 23 24
25 26 27 28 29 30 31
 <  > 
Nhận thư điện tử
Email của bạn

Định dạng

Thành viên online
Thành viên: 0
Khách: 1
Số truy cập: 878265
Tin tức > Nghiên cứu-Phê bình-Chân dung > Xem nội dung bản tin
Trần Thiện Huy: Đi xa hơn Balzac – chỗ đứng ít được ghi nhận của Vũ Trọng Phụng trong văn chương hậu thuộc địa (P1)
[28.11.2017 17:20]
(Tưởng niệm ngày sinh, ngày mất Vũ Trọng Phụng (20 tháng 10, 1912 – 13 tháng 10, 1939)

Vũ Trọng Phụng mất sớm, nhiều năm trước khi thuộc địa đầu tiên được giải thực trên thế giới. Ông không được chứng kiến những điều kiện hình thành ra cái gọi là hậu thuộc địa, đừng nói gì đến việc tham gia vào phong trào này; sự cách trở về năm tháng chỉ cho phép ông khẽ chạm đến nhiều ý tưởng then chốt của hậu thuộc địa nhưng không được ghi nhận gì trong những biên niên sử của nó – số phận mà ông chia sẻ cùng phần nhiều những con người đi trước thời đại. Tự bản chất, những gì liên quan đến sự nghiệp văn học của Vũ Trọng Phụng – từ đề tài đến văn phong – đều gắn liền với cụm từ “thuộc địa”, với thân phận con người thuộc địa, vì vậy, không một sự phân tích nào có thể tránh được việc khởi đi từ điểm này; nhưng nếu dừng lại ở chỗ đó thì Vũ Trọng Phụng không khỏi chìm lẫn vào trong tập thể cầm bút của thời đại ông, và sự nổi bật thiên tài của ông sẽ không được giải thích thỏa đáng. Chính vì sự dừng lại này, mà Vũ Trọng Phụng được nghiên cứu rất ít, và chất lượng của những phê bình hay nghiên cứu về ông nhìn chung đều mờ nhạt, lồng ghép trong cái khung lớn của văn học hiện thực phê phán. Những đột phá về ý thức của ông không được nhắc nhở và chứng minh vì chúng thuộc về một giai đoạn lịch sử, và một nền văn học quốc gia, mà cả về mặt sáng tác lẫn lý luận, không tồn tại khái niệm hậu thuộc địa.

“Hậu thuộc địa” là một tính từ thường xuất hiện trong cụm từ “nghiên cứu hậu thuộc địa” (postcolonial studies); nó không chỉ định một tọa độ trên tuyến tính thời gian như đối tượng được nghiên cứu, mà là một sự xác định nhân thân của một trường phái xuất hiện sau thời thuộc địa, và muốn tạo nên một phản đề cho nền văn hóa thuộc địa. Do đó, hậu thuộc địa là cụm từ ấn định một lập trường, một hệ diễn ngôn cố định – một ví dụ tương tự có thể thấy ở khái niệm “nghiên cứu nữ quyền” (feminist studies). Cách cấu thành một tính từ học thuật như vậy mang một hàm ý đối kháng trực tiếp tự căn tính (radical); đối tượng của sự đối kháng có thể dễ dàng suy ra từ ngữ nghĩa. Trong khi các nhà nữ quyền khảo luận về đặc quyền nam giới trong lịch sử, và rộng hơn, toàn bộ ý thức hệ duy trì sự phân chia giới tính, các nhà hậu thuộc địa mổ xẻ thời kỳ thuộc địa và những di sản của nó – cả hai với mục đích phê phán và loại trừ sự bất bình đẳng được xây dựng thâm căn cố đế và được điều kiện hóa một cách có hệ thống trong tư duy con người.

Nói như vậy, hậu thuộc địa có thể hiểu rộng ra là một thái độ, một hệ hình (paradigm) trong sinh hoạt trí thức trong đó các diễn ngôn về tích cực và tiêu cực, chính diện và phản diện tồn tại trong thời kỳ thuộc địa bị đem ra chất vấn và phủ nhận. Nó vừa là đóng góp, vừa là sự tiếp nhận, cũng là sự cụ thể hóa của Thế giới thứ ba đối với chủ nghĩa hậu hiện đại. Về bản chất, tư duy hậu thuộc địa là một bước tiến xa đi từ khát vọng giải phóng dân tộc hoặc giai cấp đơn thuần, và sự chấm dứt mọi thỏa hiệp hay vay mượn trong tương tác với các ý thức trọng Âu (Eurocentric). Đó là bước tiến cần thiết để giải thoát giới trí thức bản địa khỏi sự lạc lõng giữa thế giới vừa giải thực, khỏi mặc cảm tự ti và mang nợ trước những người chủ cũ, cũng như để cưỡng lại không bị lôi kéo theo bọn người này vào nền trật tự mới không đại diện cho nguyện vọng của họ, và càng ít hơn cho những đồng bào của họ không có điều kiện tiếp cận với văn minh phương Tây.

Trong văn học tiền chiến, sự va chạm giữa hai tuyến nhân vật xung quanh chủ đề hội họa là một trong những tình tiết hay được dùng để khắc họa sự tương phản về nhân học và xã hội học giữa hai thế giới Đông – Tây. Do tính cách dễ tiếp cận hơn trong đời thường so với các loại hình nghệ thuật khác, hội họa vô hình chung đã trở thành một loại trình diễn (spectacle) như Guy Debord gọi, để cho người trí thức Âu học phô diễn trình độ, ý hướng của mình và xét đoán mức độ tiến hóa của người đối diện. Khoác cho nhân vật của mình chức nghiệp hay khuynh hướng hội họa, do đó, trở thành một thủ pháp để xây dựng nên hình tượng người trí thức hoài bão, cô độc và chua chát. Theo cùng một truyền thống với những Dũng “Đoạn tuyệt”, Ngọc “Hồn bướm mơ tiên”, đây là hóa thân của Nhất Linh trong truyện ngắn “Hai vẻ đẹp”:

Người mặt rỗ thấy Doãn mỉm cười, ý hẳn cho là Doãn biểu đồng tình, liền nói tiếp

– Đứa bé chưa có mắt, con chắc ông còn đợi vì chưa phải giờ điểm nhỡn.

Doãn không thể nhịn cười được:

– Bác này cũng khá đấy. Biết xem tranh. Chắc bác có học chữ Nho.

Đặt bên cạnh đấy, là hình ảnh họa sĩ Typn mà rất có thể Vũ Trọng Phụng đã hình dung cũng như một hóa thân của Nhất Linh và nhóm Tự Lực Văn Đoàn (khả năng dựa trên mối quan hệ ít thiện cảm giữa ông và nhóm này):

Hai người bắt tay nhau, tiếng Tây ngậu sị cả phố.

 – Trời ơi, cái óc mỹ thuật của bình dân Việt Nam thật là thảm hại!

 – Nói chuyện mỹ thuật với bình dân thì thật phí lời!

 – Không! Không! ngài là nhà báo, ngài phải nâng bình dân lên cái nghĩa vụ hiểu biết mỹ thuật mới được. Tôi, tôi là một nhà mỹ thuật, tôi đã hy sinh cả một cuộc đời của tôi rồi! (Số Đỏ)

Đấy là những minh họa cho một trong các chủ đề biện chứng xuyên suốt qua văn học tiền chiến, chủ đề về hai nhận định hoàn toàn đối lập về tính hoạt kê trong một trường hợp đối mặt xuyên văn hóa. Sự hoạt kê là lỗi ở những người bình dân không biết “xem” tranh, hay ở người trí thức đặt quá nhiều tin tưởng và hãnh diện vào một nền giáo dục trưởng giả, một thực tại chủ quan đã bão hòa với sự trình diễn đến mức tự mình trở thành những công cụ của sự trình diễn ấy, thành cầu kỳ và phi thực giống như sự vật trong tranh của họ.

Debord lý giải như sau về sự trình diễn: “Trong những xã hội nơi mà các điều kiện sản xuất hiện đại đã thắng thế, toàn thể cuộc sống hiện ra như sự tích lũy vô tận các trình diễn… Sự trình diễn không phải là một tập hợp các hình ảnh, mà là một quan hệ xã hội giữa con người, được điều phối bởi hình ảnh.” Hàm ý về tính giai cấp và quan hệ quyền lực được tạo lập qua hoạt động nghệ thuật tạo hình nằm trong triết thuyết hàm súc mơ hồ đó có thể nắm bắt được bằng cách liên hệ với giai đoạn ông làm thành viên của Quốc tế Chữ cái (Internationale Lettriste), nhóm lý thuyết gia chủ trương phản đối việc tạo ra tác phẩm nghệ thuật, vì nó chỉ giúp duy trì những diễn ngôn ảo chẳng hạn như sự hơn kém về giá trị giữa các ngành nghề lao động.

Văn chương Vũ Trọng Phụng mang tính hậu thuộc địa một cách vị lai xuyên thời gian (futuristically), và theo cùng cách thức bộ truyện Fantomas của Allain và Souvestre mang tính siêu thực – nghĩa là, qua sự tái khám phá của người đọc, thay vì ý đồ lý thuyết của tác giả. Bằng việc sáng tạo cách đọc siêu thực cho Fantomas, Guillaume Apollinaire đã làm cho chủ nghĩa siêu thực trở thành một giá trị tự tại trong các tác phẩm, một trong những hướng triển khai tất yếu cho các ngành nghệ thuật sáng tạo, thay vì là nhãn hiệu độc quyền của một nhóm tông đồ cách mạng à la André Breton; cũng vậy, hậu thuộc địa, từ xuất xứ hàn lâm và sản phẩm của một phong trào có tính cách phản đề (anti-thetical), có thể được gạt bỏ đi lai lịch chính trị và niên đại để trở thành một tính từ dùng vào các sáng tác nghệ thuật, biểu thị sự hàm chứa dạng phản đề đó trong nội dung tác phẩm. Trong “Hai vẻ đẹp”, Nhất Linh đã tự vạch ra một phản đề, mà ông xem như đầy chất khai sáng, cho quan niệm trưởng giả của mình: phản đề của sự dấn thân. Ông tiếp tục vay mượn thêm những món nợ trí thức từ phương Tây, và đi vào lối mòn bế tắc của những người Xã hội cách mạng ở Nga mà Camus đã khắc họa trong vở kịch Những người công chính (Les Justes). Trong khi đó, phản đề của Vũ Trọng Phụng trong Số đỏ mang tính cách hậu thuộc địa và vì thế, sắc bén vượt trội hơn hẳn thời đại của ông: sự phủ nhận tất cả các họa sĩ, nhà báo, và chính khách Tây gốc An Nam, vì họ góp thêm vào vấn nạn của dân tộc thay vì vào giải pháp. Gần 30 năm sau Số đỏ, Vũ Trọng Phụng đã nhận được sự “báo thù” và sự minh chứng cho chủ nghĩa bi quan của ông khi thế giới đã bước sang một giai đoạn khác, và sự ngang trái của nhân quả đặt một châu Âu đã suy tàn vì chiến tranh đối diện với một thế lực hăng hái và tự tin một cách thô bạo, gợi nhớ lại hình ảnh của chính họ trong thời hoàng kim ở phương Đông. Sự trụy lạc cảm tử của nhà báo Fowler trong Người Mỹ thầm lặng của Graham Greene chính là cách xuôi tay của châu Âu trước một phương Đông mãi mãi thầm lặng và xa vời, nơi mà mọi sự can thiệp đầy thiện ý và theo chủ thuyết đều biến thành những biếm họa của ý tưởng ban đầu và nguyên nhân cho thảm họa.

Vũ Trọng Phụng. Ảnh từ Thẻ căn cước

Trong một đoạn độc thoại nổi tiếng của cuốn Giữa lòng tăm tối, Conrad đã nói về cách mà sự tiến chiếm lãnh thổ được thăng hoa lên thành chủ nghĩa thực dân: “Cái duy nhất cứu vãn nó là một ý [tưởng]. Một ý tưởng hậu thuẫn nó; không phải sự giả bộ đầy cảm tính mà là một ý tưởng; cùng niềm tin vô vị kỷ vào ý tưởng ấy – một thứ ta có thể tôn lên, khấu đầu trước, và hiến tế cho."[1] Đoạn lịch sử mà vì nó hậu thuộc địa được sinh ra như một phản ứng hàn lâm là một lịch sử được tạo ra một cách vội vã từ các ý tưởng vội vã. Quan điểm bài Âu của Vũ Trọng Phụng không thể lầm lẫn với chủ nghĩa quốc gia hay sắc tộc; nói xa hơn nữa, nó là cái mà các nhà hậu hiện đại ước rằng đã tồn tại để bổ sung cho chủ nghĩa quốc gia trong buổi sơ khai. Nó không ca ngợi một quá khứ hoàng kim hay một tương lai hứa hẹn nào cả; như lời Kundera nói về tiểu thuyết, nó “không được sinh ra từ tinh thần lập thuyết, nhưng từ tinh thần hài hước”. Mọi phê phán bằng lý trí và phản kháng bằng lý thuyết đều có xuất phát điểm từ việc giản lược thực tại xuống thành một vài yếu tính (essentialization, chữ của Habermas dùng). Điều đó phản bội cái nhìn của các nhà văn đúng nghĩa.

Là một người có học thức, có đầu óc phê phán và mỉa mai rất mạnh, Vũ Trọng Phụng lại hâm mộ môn tử vi; quan điểm về sự phân bố hài hòa và hỗ tương chặt chẽ giữa các lực lượng của số phận (bao gồm cả tự nhiên lẫn xã hội), nền móng của tử vi, được phản ảnh qua cách ông sắp đặt mạng lưới chằng chịt những biến cố ngẫu nhiên, có xuất xứ rộng, cho chúng gặp nhau tại các thời khắc mấu chốt tạo ra những biến cố bất ngờ và then chốt trong nội dung truyện. Sự tôn trọng tính cách bất định và vô tận của thực tại khiến ông không thể tự trói buộc mình trong một lý thuyết, một sự đề cao giá trị nào, nhất là một lý thuyết trong đó giá trị được ấn định bởi địa lý như chủ nghĩa quốc gia. Bốn mươi năm sau, Nhất Linh cũng phải nhìn nhận sự yếu kém của cái mà ông gọi là “luận đề tiểu thuyết”, loại tiểu thuyết “để nêu lên một lý thuyết, để tán dương, tuyên truyền một cái gì tác giả cho là tốt đẹp, để đả đảo một cái gì tác giả cho là xấu xa, viết tiểu thuyết để phụng sự, để chứng tỏ một cái gì đó”, đơn giản vì loại tiểu thuyết đó kém hay.[2] Cá nhân Vũ Trọng Phụng có quan điểm tả khuynh, nhưng ông không viết như một ngòi bút tuyên truyền, và trường hợp duy nhất khi ông xa rời quy luật đó, với cuốn Vỡ đê, đã cho ra một sản phẩm gượng gạo và nhợt nhạt không mấy ai còn nhắc đến.

***

Vũ trụ ý tưởng trong thời đại thuộc địa bao gồm ba thành phần: những nhà thực dân, người mang ý hướng đồng hóa với thực dân, và người chống thực dân – hai thành phần cuối cùng không nhất thiết hoàn toàn tách biệt. Sự phân chia thành phần không đơn giản bám theo biên giới chủng tộc: châu Âu đã tạo ra những cây bút say sưa ca tụng chủ nghĩa thực dân như Kipling, suy tư chất vấn như Malraux, cùng lúc với nhân đạo cải lương kiểu André Viollis hay phê phán quyết liệt như Multatuli. Họ là những cha đẻ tinh thần cho các trí thức bản xứ theo cả hai khuynh hướng nói trên – những cây bút phản kháng tàn dư của chế độ phong kiến theo kiểu Nguyễn Khuyến “vui thế bao nhiêu nhục bấy nhiêu” dường như không để lại dấu tích gì trong các trước tác hiện đại. Sự đón nhận kỷ nguyên hiện đại mang lại một hệ quả tinh thần là sự oán hận và lên án những định chế ngàn đời của các dân tộc bản địa; trí thức Tây học chia sẻ với các bậc thầy của họ lòng khinh rẻ đối với cái về bản chất là sự thiếu tham vọng của các nền văn minh Á – Phi, nơi không tồn tại các ý đồ xây dựng nền tảng luận lý hoàn vũ, thế giới hoàn toàn nhân bản, hay tinh thần chinh phục/ canh tân. Nhiều cây bút như Nguyễn Công Hoan, Phạm Duy Tốn của Việt Nam, Bhabani Bhattacharya của Ấn Độ, hay Qasim Amin của Ai Cập tập trung vào motif những bi hài kịch thuần túy phát sinh từ văn hóa truyền thống: thói mê tín dị đoan, đầu óc thiển cận, hám danh hão, quan niệm lệch lạc về quyền uy dẫn đến sự khiếp nhược của người dân và lộng hành của quan chức, v.v. Ý thức nhận diện trách nhiệm của chủ nghĩa thực dân trong cảnh ngộ tối tăm của người dân bản xứ rất hạn chế (và chỉ có thể suy ra một cách khiên cưỡng) tại điểm dừng này; còn mờ nhạt hơn nữa là ý thức phê phán nền văn minh phương Tây. Thậm chí, có thể nói góc nhìn của họ góp thêm vào tính thuyết phục của luận điểm về tác dụng khai hóa của chủ nghĩa thực dân – thực vậy, không gian phong kiến hoặc bộ lạc của những câu chuyện như vậy có thể coi như những góc khuất chưa nhận được (hoặc phản kháng lại – như trong tiểu thuyết Lá ngọc cành vàng) ảnh hưởng của các biến cải về tư pháp, chính quyền và giáo dục do những người thống trị du nhập từ chính quốc.[3]

Những kinh nghiệm trải qua dưới khung cảnh đô thị hóa, kỹ nghệ hóa, và nền giáo dục mới đã tạo ra cảm thức bất mãn sâu sắc và hiện sinh hơn, xuất xứ từ một khủng hoảng về thân phận phảng phất hình bóng vấn nạn thương phẩm hóa (commodification) trong lý luận Marxist. Ngay trong lãnh vực viết về nông thôn, chọn lựa của Ngô Tất Tố về đề tài thuế thân, một nền tảng của chính sách kinh tế và hành chính thuộc địa, cũng chứng tỏ sự leo thang về tính hệ thống và tính triệt để trong diễn ngôn. Sự tiếp xúc trực diện với guồng máy tư bản thay thế sự áp bức tùy tiện, trong ngu dốt tối tăm, ở nông thôn bằng sự bóc lột có lý giải, có quy trình, điều lệ ở đô thị trên số phận con người bản xứ. Đến theo sự thay đổi đó là một ít tiến bộ về điều kiện kinh tế – xã hội, và sự chuyển biến từ cảm giác khiếp sợ, bất lực sang chán chường hoặc căm hận. Bóng dáng chủ nghĩa cách mạng bắt đầu hiện diện một cách tất yếu và cận kề lẫn trong sự phê phán, khi Nam Cao và Nguyên Hồng viết về đời “sống mòn” của những ông giáo trường tư, những công nhân bến cảng; khi Tào Ngu kể chuyện cô gái làng chơi nơi tô giới Thượng Hải; khi Hoàng Đạo làm phóng sự pháp đình; và khi Mulk Raj Anand tường thuật cuộc nổi dậy của công nhân đồn điền vùng Assam. Dưới ngòi bút của các nhà văn này, cách mạng vô sản hiện ra như một phản ứng tự nhiên của tạo vật bị áp bức, một hy vọng tâm linh – hãy nhớ đến vầng mặt trời suốt đêm Trần Bạch Lộ chờ đợi trong Nhật xuất – và một nhu cầu lịch sử. Không phải ngẫu nhiên mà tất cả những tác giả kể trên về sau đều tham gia các phong trào giải phóng dân tộc và xã hội chủ nghĩa của quốc gia mình.

Vũ Trọng Phụng không thờ ơ với tiếng gọi của chủ nghĩa cách mạng. Trong đời thực, có tư liệu cho biết rằng ông có cảm tình với nhóm Đệ tứ quốc tế theo chủ thuyết Trotsky. Ông đã đặt vào nhân vật ông già Hải Vân, người cán bộ Cộng sản trong Giông tố, không những nhiều thiện cảm, mà còn cả sự kính phục và kỳ vọng – ra đi trong giông bão, hình ảnh ông già có một tính cách truyền kỳ, và một số phận kết thúc mở, không bế tắc như phần lớn nhân vật của Vũ Trọng Phụng. Là một người theo tây học, hành nghề ký giả, ông cũng không phủ nhận vai trò của văn minh phương Tây như một hạ tầng cần thiết cho sự chuyển hóa tình trạng tối tăm của xã hội. Nhưng Vũ Trọng Phụng có nhiều lý do để duy trì thái độ châm biếm và hoài nghi bao trùm lên toàn bộ những phác họa của ông về nếp sống đương thời; đôi khi, lý do là những quan sát sắc bén nhìn xuyên qua lớp vỏ giả tạo của sự cấp tiến, đôi khi, là phân tích công bằng và thuần lý về tính cách khiên cưỡng của việc vội vàng áp dụng các tư tưởng ngoại lai, và cũng có khi, là thái độ ương ngạnh, cố chấp đặc thù của nền chính trị bản sắc (identity politics). Ông chế diễu một ý tưởng, một dung mạo, rất nhiều khi chỉ vì nó không thuộc về dân tộc ông, vì nó bày ra một góc độ ưu việt của văn hóa ngoại lai, tiếp sức thêm cho những định kiến về sự thua kém của văn hóa Việt; ông tạo ra những tình huống “đắc thắng” một cách rất phương Đông để phủ nhận mô hình thế giới vận động theo lý trí và ý lực của châu Âu (dù có lẽ chính bản thân ông cũng nhận thấy thủ pháp này quá đỗi chủ quan và độc đoán). Vũ Trọng Phụng đã là người Việt theo cách mà Tertullian là người theo Kitô: “prorsus credibile est, quia ineptum est” (tôi tin, vì đó là điều vô lý).

Xuyên suốt qua tác phẩm của ông, người ta nhận thấy một khuynh hướng bảo thủ có lúc đi đến cực đoan: bằng thủ pháp đánh đồng sự mới mẻ với sự biến dạng, những gì thuộc về “người Âu” hoặc “Âu hóa” khó lòng có được thiện cảm của Vũ Trọng Phụng. Có lẽ, với ước muốn nhiệt thành được góp sức vào các biến cố lớn lao, được đứng trong những lực lượng lịch sử, ông đã cho ông già Hải Vân thuyết giảng trong Giông tố: “Phân biệt biên thùy với nòi giống là đồ ngu xuẩn, con nên đổi quan niệm đi và nên coi những người Pháp nghèo khổ là bạn thân, và bọn trọc phú An Nam là kẻ tử thù”. Nhưng tính phá cách, phá ước lệ trong con người ông làm người ta khó lòng tưởng tượng nổi ông trong vai trò một đảng viên, nếu so với cái nhìn đơn tuyến, bất mãn quyết liệt của Nam Cao hay cả với phong thái lang bạt, chán đời, “hippie tiên phong” (proto-hippie) của Nguyễn Tuân – những con người không đủ nhiều góc cạnh trong suy nghĩ riêng và trong trải nghiệm cuộc sống để có thể cưỡng lại động tính của thời đại. Thái độ bảo thủ là thứ chính trị mà ông thể hiện qua ngòi bút; nó hoàn toàn không thể hòa tan vào những khẩu hiệu đảng phái mà ông lập lại như đã dẫn ở trên. Trong khi con người thuộc địa trong ông đặt hy vọng vào những cơn địa chấn phát sinh từ bước tiến của “thời đại cách mạng”, con người hậu thuộc địa hỏi – với cung cách phương Đông truyền thống, già dặn và có phần ương bướng – như Horkheimer “Có thật đáng ao ước đến vậy không, cuộc cách mạng này?”

Vũ Trọng Phụng đập tan, hoặc ít ra cũng làm mơ hồ, ấn tượng của độc giả rằng ông là một con người ý thức hệ, hay đảng phái, bằng cách dùng những thủ pháp thuật chuyện kỳ lạ, ngoài ước lệ mỗi khi câu chuyện liên hệ đến chủ nghĩa cách mạng. Hình ảnh ông già Hải Vân, người đảng viên kiên cường, dũng cảm bị ông ghép vào với một lai lịch mới lạ, “con cháu cụ Trạng Trình”, am tường lý số, phù phép giang hồ, và cả lối suy nghĩ nặng chất mưu thuật lẫn thần quyền của giai cấp thống trị phong kiến: “những bậc vua chúa, những kẻ tai to mặt lớn, mà xây sinh phần, thì là để chôn mồ mả vào những chỗ không ở trong sinh phần.”[4] Lời kết án của các nhà phê bình đảng viên Cộng sản một thời là ông cố ý diễu nhại hình ảnh người chiến sĩ cách mạng có lẽ không đến nỗi sai lầm – dù coi đấy là một hành vi ác ý – là một thất bại không nắm bắt được trực cảm hậu hiện đại của ông. Thật vậy, bút pháp phá cách của ông đã đón đầu những thủ pháp giải thiêng mà hậu hiện đại hãnh diện xem như sáng tạo đắc ý của mình: lẫn lộn các hình thức tường thuật (narration) luận đề với kỳ ảo, ca ngợi với diễu cợt, đặt chất liệu cũ vào các tình huống mới …. Ông “gọi hồn” cái quá khứ cách mạng/hội kín của những người lính lê dương trong Kỹ nghệ lấy Tây, đặt cái bóng đã qua của một mẫu hình “lớn lao hơn đời thực”, luôn mê hoặc trí tưởng tượng của Tây phương trong từ Ruồi trâu cho đến Lũ người quỷ ám, bên cạnh hình ảnh ngờ nghệch, chán chường mụ mị của họ trong nếp sống hàng ngày vùng Thị Cầu – Đáp Cầu. Cả đến hành vi khá nhân bản của họ là bênh vực người phụ nữ bị bạo hành cũng bị ông tường thuật với thái độ thiện cảm nhưng thậm xưng, như cách người ta kể loại chuyện về các chàng ngốc mà tốt bụng.

Có những diện mạo mang vẻ hoạt kê vì mối liên hệ với Tây phương, và có những lúc chỉ vì thế – ở đây tồn tại hai diễn trình logic hoàn toàn khác biệt nhau. Khi Xuân tóc đỏ chỉ ra ngoài vườn, nói ấm ớ qua chuyện, ông đốc tờ Trực Ngôn liền diễn dịch theo lăng kính Freud thành ra một phát biểu hùng hồn về sinh lý học. Joseph Thiết, nhà bảo hoàng, buột miệng hoan hô tuyên bố của lãnh tụ Maurras, vô tình thành ra hưởng ứng cho bài diễn văn ngớ ngẩn của tên trí thức giả mạo. Sự chênh lệch giữa ý nghĩa như-được-phát-biểu và như-được-tiếp-nhận gợi ta nhớ đến câu chuyện cười, khi một dì phước đi truyền đạo hỏi một anh lao công: “anh có biết Jesus không” và nhận được câu trả lời “biết chứ; ê Jesus, có người đẹp tới hỏi thăm mày nè” (Jesus là một cái tên phổ biến trong nam giới châu Mỹ Latin). Với những trường hợp như vậy, Vũ Trọng Phụng áp dụng một bố cục tình tiết rất “thâm” và rất thuyết phục để tạo sự hoạt kê: sự ngộ nhận do độ chênh về ý nghĩa nhất thiết tồn tại trong đối thoại giữa lớp trí thức Tây học – quen sinh hoạt trong thế giới tiếp nhận qua sách vở, đóng gói thành những thông điệp, trừu tượng và trung gian – với những con người ngoài xã hội chỉ ghi nhận và phản ứng với thực tế hình thức liền sát bên mình. Nhưng có những trường hợp ông thuần túy phân phối sự hoạt kê không theo một lý do gì ngoài điều đã được nhận xét bởi Rousseau: “tất cả những người yêu nước đều khe khắt với dân ngoại bang”. Thủ pháp biếm họa của ông đi từ mức độ thêm thắt nhẹ nhàng như trường hợp những người lính lê dương nói trên, cho tới cay độc đối với những nhân vật như ông Typn.

Độc giả ngày nay có lẽ khó hình dung được, từ sự “bất kính” của Vũ Trọng Phụng, sự kiện là hình mẫu đời thực của những nhân vật trên chính là những nhân vật, những lực lượng vào thời kỳ đó đang làm rung chuyển, đang xây dựng, hướng dẫn, và thu hút, nền văn minh Tây phương (cùng ngoại vi của nó ở thuộc địa). Đó là thời kỳ cả châu lục gào thét đòi tiến bộ không ngừng, không mệt mỏi, và hàng đoàn thanh niên thuộc phần tử trí thức khám phá lý tưởng sống mà họ vất vả tìm kiếm trong sự tình nguyện dâng hiến tính mạng trên bàn thờ xã hội tương lai. Trí thức châu Âu say sưa và thách thức, trong các sách vở mà chắc hẳn đã truyền đến Đông Dương, bằng những lời như trong thơ của Marinetti:

Chính thế, hỡi súng máy ngọt ngào, nàng là một nữ lưu duyên dáng, tà ác, và thần thánh, với vòng quay một trăm mã lực vô hình, nôn nóng gầm thét và khịt mũi. (“Trận Tripoli”)

Con người cấp tiến là con người tự nguyền rủa mình – tù đày và cái chết là thước đo tối hậu xác định giá trị hy sinh của họ. Năm 1910, Jack London sáng tác truyện ngắn “Mất mặt” (Lost face) về chàng cách mạng Nga Subienkow, vì trốn tránh nhà cầm quyền mà lưu lạc tới Kamchatka. Bị rơi vào tay thổ dân, anh ta dùng mẹo lừa tên thủ lãnh để hắn chặt đầu mình, nhờ vậy thoát khỏi bị hành hạ theo những tập tục “dã man”. Sự tỉ mỉ khi khắc họa sự bình tĩnh, ngạo nghễ và thanh thản một cách chán chường trước cái chết của Subienkow xuất xứ từ ngòi bút của một nhà văn tôn sùng sức mạnh và nguy hiểm, là một lời làm chứng hùng hồn cho ý nghĩa sâu thẳm mà hình tượng người tử đạo cho chủ nghĩa hư vô khắc vào tâm khảm người trí thức châu Âu. Giải thiêng/thường tục hóa hình ảnh của họ vô tình chính là cách mà Vũ Trọng Phụng quân bằng lại cho sự tổn hại về danh tiếng mà các dân tộc xa lạ phải chịu để tạo sự tương phản tôn lên hình ảnh này.

Giữa một biển người văn học đầy những Kirsanov của Turgenev, Ableukhov của Bely, Ibarra của José Rizal, và cả des Esseintes của Huysmans, những người muốn lật đổ xã hội, gáo nước lạnh đến từ tay Vũ Trọng Phụng khi ông miêu tả tác động “thuần hóa” bọn họ của thế giới phương Đông:

Tôi đã quay về bàn với cốc cà phê của tôi để nghĩ đến các ông lính lê dương, những vị hoặc anh hùng, hoặc có khối óc ngang tàng, đã ở một đảng cướp hay một đảng vô chính phủ, đã nậy đường sắt để làm đổ một chuyến hoả xa trên có một ông tổng trưởng ngoại giao, hoặc đã ra lệnh cho mấy chục phát súng lục cùng nổ tại một ngân hàng, đã vượt ngục, đã tránh thoát viên đạn trượt ngang tai tại một biên thùy, để rồi lạc loài đến Thị Cầu này, ôm lấy một người có giá trị đến như thế mà nỉ non, rền rĩ: “Tôi yêu mình lắm, mỹ nhân ơi!”

***

Còn nữa

Nguồn: damau.org

 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email



Những bản tin khác:
Nhà văn ma (19.10.2017 01:46)



Lên đầu trang
Các bản tin mới đăng
Thông báo mời dự tọa đàm giới thiệu Văn hóa tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam Phủ của người Việt Nam
Thụy Khuê: Nói chuyện với dịch giả Trần Thiện Đạo
Dịch giả Trần Thiện Đạo vừa qua đời tại Paris
Thụy Khuê: Trần Thiện Đạo, lần gặp cuối
Trần Thiện Huy: Đi xa hơn Balzac – chỗ đứng ít được ghi nhận của Vũ Trọng Phụng trong văn chương hậu thuộc địa (P2)
Nguyễn Thuỳ: Ðôi mẩu chuyện về Bùi Giáng
Chùm thơ Vũ Thương Giang (Ucraina)
Đinh Văn Đức: Mười năm mất nhà ngữ học Cao Xuân Hạo -Nhớ về anh Cao Xuân Hạo
Tổng tập về rươi
Bạch Y Ngũ Bút: Thú chơi hoa "điếc không sợ súng" của Vương phu nhơn (phần 2)
Tin cùng chủ đề
Lặng lẽ Nguyễn Thành Long
Hoàng Đức Lương - Quan niệm thi học và thơ
Nguyễn Bảo Sinh-nhà thơ dân gian có chất “Bút Tre”
Lần theo mối tình Chí Phèo - Thị Nở
Trí khôn nhà văn ở đâu?
Nhà thơ Việt Phương: “Nhân chi sơ, tính…phức tạp”
CHÂU HỒNG THUỶ: Nếu tôi là Puskin
Một người Việt làm thơ bằng tiếng Nga
Phê bình văn học - Trường hợp Trương Tửu
Lưu Quang Vũ và một quãng đời, một quãng thơ thường bị bỏ quên
 
 
 
Thư viện hình