Tin tức  |  Diễn đàn  |  Thư viện hình  |  Liên hệ
Thứ tư,
20.09.2017 01:03 GMT+7
 
 
Kho bài viết
Tháng Chín 2017
T2T3T4T5T6T7CN
        1 2 3
4 5 6 7 8 9 10
11 12 13 14 15 16 17
18 19 20 21 22 23 24
25 26 27 28 29 30  
 <  > 
Nhận thư điện tử
Email của bạn

Định dạng

Thành viên online
Thành viên: 0
Khách: 5
Số truy cập: 845320
Tin tức > Trang Văn trong nước > Xem nội dung bản tin
Nguyễn Hồng Chí: Còn chút nhớ, chút thương ngày đổi tiền
[15.06.2017 19:35]
Nhớ không lầm là hình như sau khi bà nội của tôi mất một vài ngày thì nhà nước đổi tiền. Đó là vào khoảng giữa tháng 9 năm 1985. Khoảng sau 6 giờ sáng thì Đài Phát thanh Việt Nam đã thông báo tin đặc biệt về việc đổi tiền. Má hoảng hồn, nói đổi tiền nữa kìa ông ơi, có tiền đâu mà đổi?

Cô Tư Hoa kế bên nhà thì chửi đổng, tui nghèo kiết xác, còn xu nào nữa đâu mà đổi! Vậy chứ ai cũng biết thế nào cô cũng có tiền. Nghe bà Hai, mẹ ruột của cô, nói cô còn có tiền ghim trên nóc nhà nữa kìa. Oái, bán đậu phộng luộc ngoài chợ mà có tiền nhiều vậy à? Chắc là tiền cô chắt mót từ hồi sau giải phóng, không dám ăn, không dám mặc. Ắt do tính hay phòng xa của người đàn bà không chồng mà có hai con đó mà.

Nói đến tính tiết kiệm phải nhắc đến bác Hai của tôi. Bà là con dâu của bà nội, được bà nội thương tính cần kiệm đến mức keo kiệt nhưng chăm chỉ làm ăn. Hồi xửa hồi xưa, hai bên gia đình mần mai, rồi bác hai trai qua cưới năm bác gái mới 14 tuổi, bác trai được 16. Bác trai phải qua ở rể một năm, ra rừng đốn củi trâm bầu, gánh nước, làm ruộng cho gia đình vợ. Bác gái lén làm giúp cho ông chồng còn trẻ, thích ăn thích ngủ. Giữa trưa bác gánh cơm ra cho chồng, thấy chồng nằm khểnh ngủ, bác tranh thủ chặt thêm mấy cây trâm bầu to bằng bắp chân, chặt khúc, róc gai rồi xếp thành từng bó nhỏ. Sau đó đánh thức chồng để ăn cơm, rồi tất tả gánh mớ củi về gần tới nhà, bỏ vào gốc cây để lúc chiều chồng mình thảnh thơi gánh về nhà cho gần hơn.

Tội tình chi bác thương bác quý chồng đến dường vậy, mà ông lại có vợ bé vợ mọn, con riêng quá nhiều! Chắc tại tính trời sinh hay hào hoa ong bướm. Bác gái cũng ghen, nhưng sau lại xí xóa cho qua. Ở đời mấy ai được tính rộng lượng như bà. Nói cho cùng, chắc bà cũng bất lực với thói trăng hoa của chồng mà cam chịu duyên can lệ dở dang. Bà nội thương, hay nói về già chỉ muốn ở với con dâu trưởng mà thôi.

Bác hai chỉ biết làm ra tiền. Tiền từ việc chằm lá dừa nước để lợp nhà. Tiền từ việc bán đồ hàng bông từ miếng đất chút xíu mà bác trồng chen chúc bầu bí. Tiền từ việc cho vay bạc góp mười phân ngoài chợ Ba Tri. Bác hai không dám xài tiền. Gạo cơm hàng ngày thì có miếng ruộng, đủ nuôi nhà vài ba miệng ăn. Cá mắm thì ra ruộng ra sông mà bắt. Rau củ thì có sẵn ở miếng đất rẫy. Gội đầu bằng nước tro tre tàu. Giặt đồ bằng nước sông bên cầu Xây, phí chi xà bông làm mục quần áo.

Tiền  50 đồng năm 1985

Bác không sắm sửa gì hết. Bác lấy vỏ xe hơi, cắt ra từng miếng rồi lấy cây lẹm to đùng may lại để làm đôi guốc. Khổ, ngón chân bác nứt nẻ, nhuốm màu cao su đen thui. Khi nấu canh, bác hớt bọt rồi đổ vào món xào. Mà bác không xào bằng mỡ heo. Bác đổ nước lã vào chảo, nấu sôi lên để thế mỡ dầu. Cả đời cam chịu bần hèn để có tiền sắm vàng lá. Chắc cả đời bác chỉ biết xài tiền cho việc mua vàng. Bác cẩn thận lắm, luôn dặn chủ tiệm vàng nếu ai có hỏi bác vào tiệm để làm gì thì trả lời rằng bác đến để trả tiền lời bạc góp. Chắc là bác sợ bị ăn cướp ăn trộm, nên bác lận vàng bên trong mấy lớp áo bà ba thâm xỉn. Đến khi bác qua đời thì con gái bác mới biết tự nhiên mình hưởng được nhiều vàng đến vậy!

Bởi vậy sáng hôm đổi tiền bác còn thảnh thơi đạp xe lên nhà tôi để đốt nhang trên bàn thờ bà nội. Bác chắt lưỡi than trời, mình nghèo không có tiền để đổi. Đói, chắc bận này đói chết tụi bây ơi! Nói xong thì lên giọng chì chiết người này người nọ. Tụi bây khờ lắm, cầm tiền chi cho khổ. Mười đồng bạc cũ lấy được có một đồng mới. Phung phí đồng tiền đến thế là cùng!

Cô Tư Hoa cảm thán, chị hai nói phải. Đám tụi mình mua gánh bán bưng thì có tiền nhiều như mấy người tư sản đâu! Ông bà hai Nghệ Chung nghe thế cay cú lắm. Cả đời nai lưng làm mướn mới dành dụm được mớ tiền mở tiệm sửa xe đạp. Làm ăn tưng bừng, nhưng gặp phải kẻ ghen tị, nên bị tố bị thưa, rồi bị đánh tư sản. Nửa đêm công an và kiểm sát đọc lệnh xét nhà, moi gạch lấy hết vàng ông chôn dưới nền nhà. Ông không ức, mà chỉ oán hàng xóm thọc mạch. Về sau, ông xây hầm chứa nước mưa ngay chỗ bị đào vàng, rồi làm thinh đánh cờ tướng xem thế cuộc. Bà ra nhà sau, rống cổ qua hàng rào chửi đổng xóm làng cho đã nư.

Vậy mà lúc đổi tiền vẫn thấy bà cặp một rổ tiền ra quầy tín dụng. Người ta cho đổi tối đa được 2.000 đồng. Bà phải quầy quả về nhà mượn cô Tư Hoa ra đổi tiếp. Cô Tư nhằn nhì khó khăn, thím làm vậy chết con, rồi đến phiên con thì có đâu mà đổi được. Vậy tao cho mày mười đồng tiền mới đó, đổi không thì nói một tiếng? Trời, hàng xóm giúp mà thì có chi đâu thím hai. Để con làm cho, một loáng là xong. Vậy mà vui cả đôi đàng.

Nhà không có tiền. Ba nhắn người ở quê ra bán luôn chiếc xe Sachs màu đỏ. Ông tiếc đứt ruột chứ phải chơi. Dù cho động cơ của nó nổ um trời, khói xanh phun ra ngùn ngụt, nhưng nó có sức kéo phi thường. Cứ mỗi cuối tuần, ba hay chở mẹ con về quê chơi. Qua mấy lượt cát bủn xứ biển, vậy mà nó vẫn rướn mình băng qua lẹ làng. Chỉ tội nó uống xăng vô độ, như thằng nát rượu. Nên đó là cái cớ để ba bán nó đi mà không ấm ức trong lòng. Ở quê hình như người ta không hiểu đổi tiền là gì. Ông nọ cặp nách một bó tiền ra thị trấn mua luôn chiếc xe. Thời đó không có giấy tờ sở hữu gì hết. Chỉ thấy ba đưa ông chiếc chìa khóa xe. Ông cặm cụi đạp tới đạp lui, đoạn than thở rằng chiếc xe đạp này đạp nặng quá, bậu ơi!

Vậy là má cầm xấp tiền ra quỹ tín dụng. Đứng chầu chực một ngày trời thì đổi được vài tờ 50 đồng màu xanh và màu nâu có hình thủy điện sông Đà, tờ 100 đồng có hình các cô gái cấy lúa và tờ 500 có hình nhà máy gì đấy. Cả đám tụi tôi xúm lại chắt lưỡi hít hà. Trời tiền mới còn thơm phức mùi hồ nè má! Nhưng sao chỉ có vài tờ thế này thì làm sao mà đủ xài hả má? Má thở dài, biết làm sao bây giờ! Rồi kêu chị tư cầm tờ 50 đồng đi chợ. Ra chợ không ai có đủ tiền bạc nhỏ thối lại cho chị, nên chị đành lủi thủi đi về tay không. Mà các bà các dì ngoài chợ cũng không còn biết con cá, mớ rau phải định giá bao nhiêu tiền vào ngày đổi tiền mới nữa. Cứ ngây người ra, hết nhìn thúng hàng rồi lại nhìn vào xấp tiền mới người ta chìa vào mặt. Người bán và khách hàng đều bâng khuâng cho đến khi mặt trời đứng bóng. Vậy là ngày đổi tiền cả nhà phải ăn cháo với củ cải muối thay cơm. Nhớ đến giờ, không thể nào quên được!

Tội cho chị bán rau má ngoài chợ. Công cốc gieo trồng, gánh từng gàu nước ngọt ngoài giồng cát để tưới cho rau, mà cả buổi không thể bán được mớ nào. Rau rũ héo. Chị buồn tình chia sớt cho người này người kia mà không lấy tiền. Mấy bà bán cá biển cũng chung hoàn cảnh. Éo le lắm, nên chia cho chị vài ba con cá để đổi lấy mớ rau. Ai cũng thiệt tình: chồng em bắt cá ngoài ruộng muối cũng nhiều, lấy thêm chi nữa; nhà chị cũng vậy, rau má đầy ngoài sân! Nhưng họ cứ đổi chác cho nhau như hoán đổi cho nhau những cực nhọc nắng mưa trong cuộc đời.

Gia đình bác Út cũng chật vật không kém. Làm tiệm vàng thì chắc là tiền nhiều lắm, nhưng chẳng ai biết đích xác là bao nhiêu. Lại có tin đồn đổi tiền từ tuần trước nên người ta tấp nập mua vàng. Chỉ tại bác không biết rõ thời thế nên thấy khách nhiều thì vui, tiếc thay vàng của bác ít đi trong khi tiền giấy thì lại quá nhiều. Chỉ cần đếm nếp nhăn trên mặt hai bác cộng lại thì biết được đống tiền mà bác có được. Rõ khổ, có tiền lại gây nhiều lụy phiền đến vậy! Vì sĩ diện nên bác chẳng muốn nhờ vả ai đổi giùm. Biết chuyện, có chị làm trong quỹ tín dụng ngỏ lời giúp không công. Ấy là nhờ gia đình bác ăn ở phúc đức. Giàu có nhưng luôn chan hòa với hàng xóm, hay tất bật giúp đỡ xóm làng mỗi khi họ gặp lúc khó khăn.

Dẫu gặp ngày bĩ cực thiếu thốn thức ăn, vậy mà bác vẫn múc cho cô Tư điếc một tô canh bí hầm dừa. Cô trút tô canh vào các lon uống nước rồi tuềnh toàng gánh thúng trầu ế vàng ươm ghé nhà tôi xin hớp nước mưa. Nhìn trái cau tươm mật phát thèm. Cô chểnh mảng bàng quan với thế cuộc, lặng lẽ bổ cau ăn trầu bỏm bẻm. Có lẽ một phần cô bị điếc và câm nên không hiểu những gì xung quanh, và cũng do số phận đời cô đã an bài hiu quạnh đến vậy. Má tôi thấy tội nghiệp, ra dấu kêu cô ra quỹ tín dụng đổi tiền. Cô cười hiền queo, ú ớ trong miệng rồi chia cho má ít cau trầu để cúng trên bàn thờ bà nội. Cô ngồi ngay ngạch cửa ra vào, phe phẩy chiếc nón lá oi nồng mùi cau trầu như để xua đi bao điều bực dọc của thị trấn chộn rộn. Đấy là khi giàu nghèo hết còn phân tầng giai cấp! Tiền bạc có cũng như không.

Vậy chứ ông tổ trưởng không ưng bụng. Ông đi bộ rảo khắp đầu trên xóm dưới, hối thúc người ta đổi tiền và xài tiền, như thể là tiền do ông in ra không bằng. Vì lãnh đạo cấp trên bắt qua phải đi kiểm tra tính hiệu quả mãi lực của đồng tiền, nên bà con phải tranh thủ xài tiền đi, tiền in ra để xài, để cân bằng giai cấp đó, biết chưa? Tôi tròn mắt, không hiểu được những từ ngữ đao to búa lớn dường ấy, chỉ biết vô tư chạy sang nhà hàng xóm chơi đá banh. Quay lưng đi rồi, tôi thấy ông len lén tần ngần một chút, đếm mớ tiền hỗn độn mấy chục đồng rồi tất tả về nhà. Thế nào ông cũng bị bà vợ chửi cho mấy câu về cái tội đi suốt buổi mà không mua được gì cho đám nhỏ ở nhà.

Lúc đi chơi về thấy má ngồi khóc giọt vắn giọt dài nên không dám hỏi, chỉ biết tần ngần đứng ở cửa buồng. Bác hai vẫn ngồi thẫn thờ, chút chút lại thở dài, hết hơi để mắng nhiếc này nọ. Ba ngồi chống cằm suy tư. Đám con im re, chỉ nghe tiếng con nhện dệt tơ rột rẹt trên gác xép. Không ngờ nhà mình có tiền mới mà buồn đến vậy. Nhìn vào phía sau cửa buồng bỗng thấy trông trống, thiếu đi chiếc Sachs và mùi xăng ngầy ngật của nó. Nhìn vào nhà bếp cũng thấy thiêu thiếu, mất biệt làn khói xanh từ bếp ám đen nồi cơm buổi chiều. Tự nhiên con nít buồn vu vơ.

Ba không có việc làm. Má cũng hết thời đi buôn lậu thuốc tây. Gia đình rơi vào túng thiếu triền miên. Con nít chẳng nghĩ ngợi nhiều, chỉ hay đăm chiêu nhìn chén cháo chan nước mắm mỗi ngày, rồi múc ăn lấy ăn để, ngoảnh đi ngoảnh lại chỉ thấy mỗi người chỉ được một chén lưng lưng. Buổi trưa đó cũng ảm đạm như thường ngày, nhưng hình như mọi người suy tư dán mắt vào những tờ giấy tiền mới nằm chỏng chơ giữa bàn mà suy ngẫm về mãnh lực của đồng tiền. Bác hai tằng hắng, nói cho qua chuyện, thôi thì tụi bây thu xếp cho đám nhỏ đi làm kiếm ăn, con trai thì xuống bến đò mà xin làm bốc vác, con gái thì ra chợ mà bán buôn hàng bông.

Tôi sợ quéo mặt. Chắc chết, sao tôi có thể vác được những bao bố tời đựng cám, khuân những viên đá xanh sắc cạnh? Nỗi sợ từ đâu ập về, tự hỏi tại sao người ta phải ăn thế nhỉ? Ước gì mình có thể trở thành người trên mặt trăng, mỗi tháng chỉ ăn một lần bằng cách mở cửa sổ từ bụng của mình và nhét tất cả thức ăn vào cho cả tháng. Khi con nít rối rắm, chúng hay nghĩ đến những chuyện cổ tích thần tiên!

Nhưng ba nạt ngang, đám nhỏ nhà này phải đi học tới nơi tới chốn, chứ không lăn lóc đầu đường xó chợ được đâu chị hai à! Bác hai nguýt mắt rồi đội nón đạp xe về tuốt. Má bần thần gỡ tóc, rồi lại chải tóc, cuối cùng thì thở dài bỏ tiền vào túi để ra chợ kiếm người đổi ra tiền lẻ… Khuya hôm đó ba đón xe tải lên Bến Tre, rồi lang bạt đến An Giang, Đồng Tháp để tha hương cầu thực. Rồi sau đó má cũng đi theo ba kiếm miếng cơm manh áo cho cả nhà.

Ngày đổi tiền là vậy, buồn buồn nhơ nhớ. Trong thời cuộc trầm luân đó, tôi vẫn còn nhớ hoài mùi cau trầu âm ấm ơ hờ với những đổi thay, tiếng nhện dệt tơ buồn nức nở cho kiếp nghèo, giọng chanh chua của hàng xóm lên mặt khi người khác lỡ cơn thời vận. Nhớ hoài viên kẹo dừa đen thui mà bác Út dúi vào túi áo để ăn cho đỡ đói. Thấy thương thương mùi hăng hăng của củ cải muối tạm no lòng cho hết buổi trưa, màu khói xanh biêng biếc của củi trâm bầu lởn vởn ở sau nhà đìu hiu. Thương thương thị trấn miền biển hiền khô, buồn lặng lẽ vào mùa tựu trường xơ xác hàng phượng vĩ cong oằn những trái héo như sừng trâu suy dinh dưỡng. Mấy chục năm qua rồi mà mùi nhớ mùi thương vẫn còn ám trong quần áo, ám trong lời nói, trong tiếng thở dài và ẩn sâu vào từng hơi thở.

N.H.C

(Theo Bản tác giả gửi Người Bạn Đường)
 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email



Những bản tin khác:
Lê Mai: HOA TRẠNG NGUYÊN (31.05.2017 20:07)



Lên đầu trang
Các bản tin mới đăng
NHỮNG BÀI HỌC TỪ NƯỚC NGA - Họa sĩ Lê Thanh Minh
VĨNH BIỆT NHÀ THƠ VÕ THANH AN
Chử Thu Hằng: “CÓ PHẢI EM LÀ MÙA THU HÀ NỘI” - tản văn
Vương Cường: Chùm thơ Tình yêu và Đồng đội
VĨNH BIỆT NHÀ THƠ HOÀNG AN
Tân chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội: tôn trọng sự khác biệt
Nguyễn Khánh; Nhân sự nóng từ đầu đến cuối ở ĐH Hội Nhà văn Hà Nội
Đặng Xuân Xuyến: Chùm thơ tình
Chùm thơ thứ 3 của Lê Thanh Hùng (Bình Thuận)
Nguyễn Trọng Tạo: Bạn tóc xoăn
Tin cùng chủ đề
Me tây
Thung Lam
Chùm truyện ngắn Mini của Vũ Thanh Hoa
Lần đầu bên nhau ( phần 1)
Nguyễn Huy Hoàng - Tìm con, chăm bạn, làm thơ
Lần đầu bên nhau (phần 3)
I am đàn bà
Truyện ngắn mini - Đỗ Ngọc THạch
Lần đầu bên nhau (phần 2)
Tình qua tin nhắn
 
 
 
Thư viện hình