Tin tức  |  Diễn đàn  |  Thư viện hình  |  Liên hệ
Thứ năm,
22.06.2017 20:24 GMT+7
 
 
Kho bài viết
Tháng Sáu 2017
T2T3T4T5T6T7CN
      1 2 3 4
5 6 7 8 9 10 11
12 13 14 15 16 17 18
19 20 21 22 23 24 25
26 27 28 29 30    
 <  > 
Nhận thư điện tử
Email của bạn

Định dạng

Thành viên online
Thành viên: 0
Khách: 1
Số truy cập: 810211
Tin tức > Nghiên cứu-Phê bình-Chân dung > Xem nội dung bản tin
Lê Thị Xuân Liên: Cảm quan hiện thực trong truyện ngắn Thâm Tâm
[09.05.2017 15:53]
Xem hình
Nhà thơ Thâm Tâm
1. Mở đầu: Trong sự nghiệp văn chương của mình, Thâm Tâm không chỉ làm thơ mà còn viết văn, sáng tác kịch. (Ông có hơn chục bài thơ, 70 truyện ngắn, truyện dài, trên chục vở kịch, một số tạp văn in đều đặn trên tiểu thuyết thứ bảy suốt từ những năm 1941- 1945).

Chúng tôi thiết nghĩ để đánh giá một cách công bằng về nhà văn này trong nền văn học hiện đại Việt Nam không thể không xem xét thế giới truyện ngắn mà ông đã miệt mài viết trong suốt cuộc đời mình để cống hiến cho công chúng độc giả. Bài viết của chúng tôi sẽ giới thiệu với độc giả một số vấn đề về cảm quan hiện thực trong truyện ngắn của nhà văn Thâm Tâm…

2. Cảm quan hiện thực trong truyện ngắn Thâm Tâm.

“Cảm quan” chính là cảm xúc của mỗi người khi quan sát một hiện tượng, một hiện trạng nào đó trong cuộc sống. “Cảm quan hiện thực” là cảm nhận, cách đánh giá hiện thực và cách tiếp cận hiện thực của nhà văn. Cảm quan hiện thực có thể biểu hiện ở nhiều phương diện, góc độ như cách tiếp cận hiện thực, cách lựa chọn nhân vật, chi tiết, ngôn từ…để biểu đạt tư tưởng xúc cảm của người nghệ sĩ trước hiện thực cuộc sống. Nó chi phối mạnh mẽ đến phong cách nghệ thuật, tư tưởng nghệ thuật và cách biểu đạt hiện thực cuộc sống của người cầm bút.

 Khảo cứu thế giới truyện ngắn của Thâm Tâm có thể nhận thấy “với những nét nổi trội chúng ta có thể xếp ông vào khuynh hướng văn xuôi hiện thực, tuy rằng cách viết mang hơi hướng phong cách lãng mạn”. [4. Tr11]

2.1. Thế giới nhân vật trong  truyện ngắn của Thâm Tâm.

Nhân vật chính trong truyện ngắn của Thâm Tâm chủ yếu là những con người bé nhỏ thuộc tầng lớp bình dân ở thành thị Việt Nam đương thời. Đó là những công chức, viên chức nghèo làm công trong các nhà hàng, công sở; những giáo khổ trường tư tháng nào cũng nơm nớp lo học trò không có tiền đóng học thì phải đóng cửa; người kép già sinh lực tán dần trong khói thuốc phù dung phải sống dựa vào cô con gái nhỏ; người nhạc sĩ mù phải chấp nhận để bạn bè cưu mang giúp đỡ; người ca nữ vì thân phận nghèo hèn phải dấn mình vào chốn bình khang để mua vui cho người đời; những người con gái giang hồ phiêu bạt nơi đất khách quê người... Cuộc sống  của những con người bé mọn này chẳng mấy ai giàu có hay hạnh phúc. Chỉ có điều, cái sự nghèo khó của họ chưa đến độ khốn nạn bần cùng như chị Dậu hay anh Pha, những bi kịch trong cuộc đời và số phận của họ chưa đến tận cùng của sự bề tắc như Lang Rận, Chí Phèo hay Lão Hạc…

Trong truyện ngắn của Thâm Tâm còn xuất hiện một hạng người khác thuộc tầng lớp bình dân nhưng họ không phải là những con người bất hạnh đáng thương mà là những người đáng giận, đáng lên án, phê phán bởi nhân cách đạo đức và lối sống ích kỷ, nhẫn tâm, thực dụng hay lãng mạn một cách rởm đời.

Đưa những con người đời thường, bình thường thuộc tầng lớp bình dân vào trong truyện ngắn của mình, thực sự Thâm Tâm đã vô tình bước những bước ban đầu đến với chủ nghĩa hiện thực trong văn chương nghệ thuật.

Thâm Tâm - thứ 3 từ trái sang, cùng đồng đội ở báo Vệ quốc quân

2.2. Hiện thực xã hội trong truyện ngắn của Thâm Tâm
 
“Truyện ngắn Việt Nam 1930 -1945 đã để lại  những cống hiến to lớn về mặt phản ánh đời sống xã hội. Các cây bút truyện ngắn thời kì này đã phản ánh một cách toàn vẹn sâu sắc bộ mặt xã hội thực dân phong kiến. đó là  một xã hội đen tối, thối nát, lỗi thời và đầy rẫy bất công, lừa lọc… Các tác giả… đã phê phán…, đã lột bỏ cái vẻ hào nhoáng, giả tạo bên ngoài để phơi bày tất cả cái sự sấu xa nhơ nhớp bên trong” [3. tr 280- 281].

Đem ý kiến trên soi chiếu vào truyện ngắn Thâm Tâm ta có thể thấy rõ truyện ngắn của ông phản ánh khá trung thực hiện thực xã hội đương thời. Chỉ có điều ông không phản ánh thực trạng xã hội ấy ở diện rộng, dựa trên các sự kiện mà đi vào khái thác chiều sâu của nó. Hiện thực trong truyện ngắn của Thâm Tâm không phải là hiện thực khách quan bên ngoài xã hội mà là hiện thực tâm trạng, những khoảng khắc nội tâm của con người.“Quan tâm tới thế giới tinh thần nhân vật, hướng nội, với tính chất là những tình huống tâm lí hơn là hướng ngoại được xem như là đặc điểm chính trong bút pháp Thâm Tâm”- [4. tr 10]. Vì vậy các nhân vật của ông không hiện ra đầy đủ là những cuộc đời, hoặc quãng đời mà chủ yếu là những thời khắc, cụ thể, gắn liền với tình huống tâm lí cụ thể. Đó là thời khắc xảy ra trong hiện tại chứ không mấy khi hướng về quá khứ bằng những hồi ức, hoặc trong mối quan hệ xã hội phức tạp đương thời.

Ở xuất phát điểm tiếp cận hiện thực và tạo dựng cốt truyện thì Thâm Tâm khá gần với Thạch Lam. Mỗi câu chuyện đều được viết xuất phát từ một tâm hồn giàu cảm xúc. Các nhân vật trong truyện ngắn của ông đều được khắc họa về đời sống nội tâm chứ không về tính cách. Cốt truyện thường xây dựng theo diễn biến tâm trạng nhân vật, thường là những khoảnh khắc tâm trạng với những day dứt, dằn vặt, suy tư trong cuộc sống đời thường. Có những câu chuyện của ông không có cốt truyện, chỉ kể về tâm trạng nào đó của nhân vật trong cảnh ngộ cụ thể nhưng xét đến cùng nó cũng chứa đựng những suy tư, trăn trở của chính tác giả về số phận con người như bao nhà văn hiện thực lúc đó. Có thể xem, đó là cái cách Thâm Tâm bộc lộ lộ thái độ khi đối diện với  đời sống thực tại đương thời.

2.2.1. Những cảnh ngộ, số phận éo le, uẩn khúc trong mối quan hệ nhân thế

Thâm Tâm hướng cảm xúc của mình vào những cảnh ngộ, những thân phận có nhiều nỗi éo le, uẩn khúc trong phạm vi tình bạn, tình yêu, hôn nhân gia đình, tình anh em ruột thịt,… của mối quan hệ nhân thế từ đó nêu bật lên vấn đề nhân cách, đạo đức, đạo lý đối với con người. Đồng thời phản ánh số phận đầy bi kịch của họ trước sự tác động dữ dội của xã hội đương thời.

Người con gái tên Lan trong truyện Bông lan trần mộng là một danh ca trong làng sênh phách. Người cha già của nàng vốn là kép đàn, nên Lan thuộc lòng và hát cho đời khúc tỳ bà từ nhỏ. Theo như lời tác giả kể thì hoàn cảnh của nàng thật đáng thương: Người kép già, tuổi đời đã vời bóng xế, bên mình lại chỉ có một mụn con gái. Vì thân phận nghèo hèn nên Lan phải đi hát cho đời để nuôi bố và nuôi thân, sống cuộc sống trong bóng tối. Thâm Tâm đã miêu tả rõ ràng “Cuộc sống của Lan  bắt đầu từ sau giờ tý, giờ bắt đầu của quỉ ma”. Lan được ví là “một đóa Lan trần mộng”- loài hoa lan đẹp nhất trong các loài lan, cánh mầu đỏ thắm như máu. Nói như Thâm Tâm “đã là máu tất có sự sống của một mộng đời”. Lan đâu thể mộng ước gì nhiều. Nàng từng có một tình yêu say đắm với Bính - một khách làng chơi. Những ngày họ bên nhau “Bính quên mình là nhành cỏ bồng lăn” còn “nàng quên mình là cánh hoa bay”  xong hạnh phúc của cô khác nào cơn gió mong manh. Đã bước chân vào làng ca nữ, nàng không thể thuộc về riêng ai, lại càng không thể yêu riêng mình ai hay sống cái cuộc đời riêng mình. Giây phút ý thức được về tình cảnh bi kịch ấy, Lan đã đau đớn mà thốt lên với người cha già: “Đời còn gì nữa! Không cho con yêu thì con sống làm sao!”.

Mối tình say đắm ấy kết thúc. Lan quay trở về nghiệp sênh phách hát tiếp cho đời khúc tỳ bà định mệnh. Mười ngón tay mảnh dẻ của nàng chỉ còn gieo xuống tơ đồng nỗi thương nhớ âm u. Nàng không thể chọn con đường nào khác ngoài việc “dạo những khúc đàn đầy lời Tô Thị. Khách mua vui tới mua từng khúc để làm những cơn vui” bởi “trên mười ngón tay ấy còn có hai bàn tay già gân guốc và khắc khổ cầm chừng, để sai khiến những ngón tay buông bắt chiều theo những khách phong lưu khác vàng bạc lóa người”.

Lan sống thoi thóp chờ đợi Bính trong ngôi nhà bình khang cho đến ngày trút hơi thở tàn.  “Thế là kết liễu một đời ca nương thanh sắc! Hình bóng người con gái giang hồ còm cõi chết dần trong cái nhà mồ bình khang, vẩn lên khói thuốc độc, những hơi rượu dữ pha trộn với những phấn sáp lẫn nước mắt và mồ hôi cùng ít nhiều đờn máu”.

Câu chuyện thật buồn thảm. Đời người con gái tài sắc ấy  thật ngắn ngủi. Nàng có tội tình gì đâu, mà phải chịu bất hạnh như vậy. Phải chăng nàng đẹp, nàng thuộc phận hồng nhan nên mệnh bạc như người xưa vẫn nói? Thâm Tâm viết về số phận éo le, bi kịch của người con gái tên Lan này không phải để minh giải cho thuyết định mệnh cũ kĩ ấy. Ông muốn phơi bày mặt trái, bất công của  xã hội đương thời. Đó là một xã hội  chỉ có những kẻ ích kỷ, thực dụng chỉ biết hưởng lạc không bao giờ biết trân trọng, nâng niu cái đẹp, cái tài. Đồng thời cũng muốn kể với công chúng về số phận đầy bi kịch của những người nghệ sĩ  tài hoa trong xã hội đó. Họ dù tài hoa đến đâu cũng chỉ  được xem là kẻ mua vui cho người đời, chứ không hề được người đời xem trọng, càng không bao giờ có được cuộc sống của riêng mình. Từng lời văn trong câu chuyện như những giọt nước mắt khóc than cho kiếp đời ca nữ tên Lan và cho bao thân phận ca nữ trong xã hội Việt Nam thuộc địa nửa phong kiến ấy

Cung đàn li hương là một câu chuyện buồn khác về cuộc đời một ca kĩ nơi đất khách quê người. Cuộc sống tha hương của nàng cũng tủi hờn không kém. Người con gái ấy tên Lý Thái Vân. Cô vốn là người gốc Việt. Năm 10 tuổi, theo mẹ chạy loạn bị một bọn người lừa bán sang Tàu làm vợ một lão Khách già và bị hành hạ khổ sở lắm. Năm 13 tuổi, người chồng già chết, cô theo người vợ trẻ khác của hắn lên Quảng Đông bắt đầu học đàn, học hát, cạo răng, cắt tóc ngắn sống đời ca kĩ. Cuộc đời trôi nổi đưa đẩy Thái Vân đến Hương Cảng - một bến nước phồn hoa không kém gì đô hội. Chẳng ai có thể thay đổi số phận của cô được nữa bởi cô mãi sẽ là một cô Lý Thái Vân với “cái cười lả lướt của những đêm rượu và son phấn”. Theo như lời Thái Vân nói thì so với những người bị bán sang đây, phận nàng là may mắn nhất. “Từ đó đến nay đã hơn mười năm, nàng cũng đã quen sống với cuộc đời phấn son gió bụi” chốn quê người rồi nên cũng không muốn trở về cố hương nữa, cũng không có ý định hoàn lương. “Từ chuyến tàu vĩnh biệt ấy, tới nay đã ba năm, không biết cây đàn độc huyền tôi tặng họ Lý có còn hay đã mất, hay đã trôi theo cuộc đời trôi dạt của người kĩ nữ ấy mà lạc đến một chốn phồn hoa khác nào chứa nổi cơn gió bụi của đất trời?”. Câu chuyện về cuộc đời gió bụi phấn son của Lý Thái Vân chứa đựng ý nghĩa xã hội sâu sắc mang màu sắc hiện thực. Nó phản ánh một thực tế về sự tác động dữ dội của hoàn cảnh đến tính cách của con người, đồng thời cũng là lời kết tội cái xã hội đương thời xô đẩy con người lương thiện đến bước đường cùng bế tắc, không lối thoát.

Người Hủi ở làng Liêu kể về chuyện tình bi kịch của một đôi trai gái làng Liêu. Người con trai họ Lê mắc bệnh hủi phải sống cách ly trên đồi hoang; người con gái xuất thân trong gia đình họ Trần bên làng Lãnh Hạ có bệnh điên di truyền. Chàng trai khuyên nàng trở về với gia đình nhưng nàng nhất quyết không nghe. Nàng không trở về mà còn bỏ cả làng, bỏ họ Trần lên đồi hoang ở cùng với  người nàng yêu như một sự thách thức với số phận, định mệnh: “Chao ôi họ Lê không dám có một nàng dâu điên, họ Trần lại không dám có một chàng rể hủi? để phối hợp hai cái họ ghê gớm ấy lại, hai cái họ đã từng gây ra lắm việc hằn thù cho hai làng ở hai bên đồi, chúng ta hãy kết nên một mối hảo lương duyên, bất chấp cả bệnh tật, bất chấp cả cái chết và tất cả!”. “vì cuộc đời hắt hủi anh nhiều quá nên em phải thuộc về anh. Làng Lãnh Hạ mất một em, không việc gì cả; Nhưng anh không có em thì là anh không có gì hết. Đời người thanh niên sớm bị trùng phong giết đi, mà lại đến nỗi không có gì hết hay sao? phải có một chút gì an ủi chứ! Anh không có một sự nghiệp gì thì anh phải có một chút tình đẹp đẽ nó làm cho hồn anh đỡ tủi.

Có thể thấy mối tình của đôi trai gái này có hơi hướng của sự lãng mạn, ít gặp trong đời thực nhưng đằng sau cái dáng vẻ lãng mạn ấy là hiện thực một tấm lòng và một khát khao về hạnh phúc của hai con người bé nhỏ bất hạnh và đáng thương này. Chuyện tình của  đôi trai gái này có dáng nét rất gần với chuyện tình giữa Chí Phèo và Thị Nở trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao. Họ có cùng chung một số phận là bị người đời hắt hủi, xa lánh;  bị cuộc đời xua đuổi, xô đẩy vào con đường bế tắc không lối thoát. Người cha của cô gái họ Trần làng Lãnh Hạ  đã “nhất định làm cái việc mà cả họ Trần cùng muốn là giết chết ngay đôi lứa thiếu niên”.  Ông đã đốt căn lều của họ trong cơn say rượu. Ngọn lửa trong cái đêm định mệnh ấy đã thiêu chết đôi bạn tình đau khổ để lại bao nỗi xót xa oán hận cuộc đời, lòng người của hai con người bé mọn, đáng thương. Hy vọng cái chết trong lửa của họ như một sự thanh khiết hóa cho thân thể để kiếp sau họ không còn phải chịu sự hắt hủi, kì thị của người đời nữa. 

Trong truyện ngắn của Thâm Tâm, những con người bé mọn dường như chẳng có ai thoát khỏi vòng xoáy bế tắc của cuộc đời. Chúng ta chỉ gặp toàn những câu chuyện buồn về số phận và cuộc đời của họ. Mỗi người một cảnh ngộ khác nhau nhưng ai cũng đáng thương cả. Thâm Tâm chia xẻ với những con người bé mọn ấy bằng cách kể nhiều về họ để làm cho nỗi buồn thảm trong số phận của họ bớt đi chăng? Quán thu phong đứng bóng tà huy, Gương mờ, Bến trúc trăng vàng nhớ cố nhân… là  những câu chuyện buồn về thân phận của người phụ nữ trong cảnh ngộ trong hôn nhân gia đình. Họ đều chịu chung số phận là gặp phải những ông chồng có thói ghen tuông mù quáng. Kẻ thì hắt hủi, ruồng rẫy vợ; kẻ thì hãm hại vợ, đẩy vợ xuống sông cho chết đuối; kẻ thì hành sử ghen tuông theo lối “có học” một cách thâm thù khiến  người vợ sống trong cảnh  chồng vợ như thể thân tù giam lỏng cay đắng muôn phần.

Còn biết bao những câu chuyện mang nỗi đau của số phận, đời người được Thâm Tâm qui tụ về trang sách của mình. Bi kịch của họ, số phận của họ theo cách lý giải của Thâm Tâm thì không phải lỗi tại ông Trời mà đều bắt nguồn từ đời sống thực tại của chính con người. Con người và những thói xấu của con người cùng cái cơ chế xã hội đương thời vốn không còn giữ được sự ổn định trật tự nữa ngày càng suy đồi, tha hóa. Thâm Tâm cũng như nhiều nhà văn hiện thực phê phán đương thời cùng đối diện trước cùng một hoàn cảnh xã hội và cùng cảm nhận được nỗi đau thể xác, tinh thần của những thân phận bé nhỏ, đáng thương để rồi họ cùng nhau lên án, phê phán nó thông qua những trang viết của mình.

2.2.2.  Lối sống phù phiếm, giả dối, thực dụng, cá nhân của người Việt Nam trong cơn lốc Âu hóa.

Người Tây vào Việt Nam mang theo cả cái lối sống cá nhân vị kỷ. Lối sống ấy đã tri phối không nhỏ đến lối sống, nếp nghĩ của con người Việt Nam. Một bộ phận người Việt Nam bị cơn gió Âu hóa cuốn theo đến mức biến chất khiến người thân, bạn bè, đồng nghiệp không nhận ra. Sự tha hóa, biến chất ấy đã từng được giới văn sĩ đương thời phản ánh trong sáng tác của mình, Thâm Tâm cũng không ngoại lệ. Ông hướng ngòi bút của mình vào vạch trần cái lối sống phù phiếm, giả dối vì ích kỷ, tự phụ của một số loại người trong xã hội; thói vô ơn, sự bạc nghĩa, những tính toán trục lợi và hèn nhát; sự độc ác, nhẫn tâm và lòng thù hận… khá phổ biến ở xã hội thành thị Việt Nam trên con đường Âu hóa, hiện đại hóa đương thời. Một cuộc tiễn hành vô cùng cảm động, Cái nạn thi vị hóa, hùng, Trong lòng đầy sắc tím, Gã thanh niên mù ấy là tôi, Cái áo của người chết là những câu chuyện tiêu biết về chủ đề này. Mỗi câu chuyện kể về một thói xấu của con người, mỗi câu chuyện kể theo một cách khác nhau, lúc thì tác giả vào vai nhân vật chính, chứng kiến sự việc và kể lại; khi thì để cho các nhân vật đối thoại với nhau, qua cuộc đối thoại đó cái xấu của người đời dần hiện hữu một cách khách quan trước công chúng độc giả khiến ai cũng phải ngờ ngàng.

Trong truyện Một cuộc tiễn hành cảm động, tác giả vào vai nhân vật chính kể  một cách mỉa mai chua xót về “lòng tốt của đám bằng hữu xung quanh đối với mình khi nghe “Tôi” tuyên bố sẽ rời bỏ Hà thành để vào Huế không bao giờ trở lại nữa. Những người bạn  tốt ấy kẻ thì mở tiệc liên miên để tiễn đưa “Hai ngày một tiệc lớn, nửa ngày một tiệc nhỏ”; Có một số người lại thể hiện lòng tốt của mình một cách kín đáo hơn “Họ tốt ngầm tốt ngấm, họ để dành lòng tốt của họ đến phút cuối cùng mới mở rộng ra”. Cái cách thể hiện kín đáo vào phút cuối ấy là trả tiền vé xe; tặng tiền mặt trước lúc lên xe làm lộ phí đi đường trước bao sự chứng kiến của các thiếu nữ; Người thì cao giọng sẽ tặng lại chiếc đồng hồ quả quýt mà 14 năm nay anh ta chưa rời khỏi mình tuy đã hỏng hay còn tốt thì không thấy anh ta nói tới, còn cô thiếu nữ có đôi mắt giời thu buồn ngậm ngùi níu giữ bằng câu nói “anh ở lại với em” khiến nhân vật tôi cảm động đến độ có muốn ở lại cũng không đành lòng vì anh ta hiểu rất rõ cái tình thực của  cô thiếu nữ nọ biết đâu người đẹp chỉ giữ tôi ở lại khi biết tôi thế nào cũng phải ra đi”. 

Bạn bè tiễn đưa rất đông, người đi phải nói chuyện với tất cả, mỗi người vài câu, hết sức cảm động trước tấm chân tình của bầu bạn, nhưng rồi không thể cảm động nhiều hơn nữa bởi vì những mẩu chuỵện vụn vặt xảy ra sau đó: Hoàng ghé tai tôi thì thầm: Thằng Hồi nó không định tiễn anh đâu, nó ra đây vì cần gặp thằng Tứ để bán lại một đôi giày. Ân chạy tới dắt tôi ra chỗ khác: Thằng Hoàng bảo gì anh, có phải nó hỏi về con Lưu chăng? Anh mà đi rồi, con Lưu về tay nó đấy!... Tàu chạy… Hồi đang cố gọi người định mua giày, Lưu khoác tay Ân, Thứ người bạn thân nhất chẳng vẫy tay cái nào, lại còn quay lại sừng sộ với Bảo. Bà bạn ba bốn mươi tuổi còn mải xoắn lấy hai ông bạn xuân xanh mới độ nhị tuần!”

Điều mà Thâm Tâm muốn nói tới trong câu chuyện này chẳng phải là sự đen bạc của thói đời trong xã hội ấy, một xã hội mà lòng tốt của con người thật quá hiếm hoi. Nó dường như đã khô kiệt bới nhưng tính toàn tủn mủn, vụn vặt đời thường, bới lối sống vị kỷ cá nhân. Câu chuyện kết thúc mà cảm giác lưu lại trong lòng bạn đọc là cái dư vị chua chát còn đọng mãi.
 
Gã thanh niên mù ấy là tôi là một câu chuyện ngắn khác viết về thủ đoạn xoay tiền thiên hạ của một loại người trong xã hội đương thời. Họ lợi dụng đôi mắt mù của người bạn đem cái tài đàn hát đi kiếm tiền thiên hạ, nói là để nuôi bạn chứ thực tình chỉ để nuôi họ ăn chơi cho thỏa thích. Thủ đoạn ấy được tác giả kể lại tỉ mỉ: “Mỗi chiều, mỗi tối, kẻ đàn, người địch mang nhau đến những nhà sung túc, đến tửu quán cao lâu mà đàn hát cho người ta nghe; bọn người ăn mặc không sang trọng lắm, nhưng vẫn chỉnh tề, để tỏ ra rằng họ tuyệt nhiên không có ý kiếm ăn bằng âm nhạc, tuy chính họ ngửa tay ra để nhận tiền; tiền ấy họ bảo để giúp một nhạc sĩ mù vốn là bạn họ, và chỉ người bạn mù ấy mà họ phải đem tài nghệ đi làm tiền đấy thôi”.
 
Một trong những nguyên tắc thẩm mĩ của chủ nghĩa hiện thực là phản ánh được mối quan hệ giữa hoàn cảnh và số phận, tính cách con người. Thâm Tâm đã làm được cái điều đó khi mở rộng hiện thực trong thế giới truyện ngắn của mình nhất là khi phản ánh thực trạng về sự tha hóa của tính cách, lối sống  của một bộ phận người trong xã hội đó.


Trong truyện ngắn Bài học của đời trong quyển vở, người đọc bắt gặp khá nhiều chân dung  có lối sống nói trên. Đó là Cường từng quyến rũ vợ của bạn thân, từng hứa hẹn sẽ cùng uống thuốc độc tự vẫn với người tình nhưng lại lừa dối “uống giả vờ” khiến người bạn tình đầy nước mắt từ trần một mình sau một liều thuốc độc. Câu chuyện này chúng ta biết được là bởi chính miệng Cường kể lại cho Liêu nghe. Hiện anh ta đang sống trong sự sám hối muộn màng: “sống  quằn quại cho đến ngày nay, làm một thằng cay đắng cuộc đời, say rồi giả ngộ, mỉa mai thiên hạ, nhưng thật ra chính mình phải để cho thiên hạ mỉa mai”.  Đó là Chiểu, “20 tuổi là người có tình nhưng năm 25 tuổi lại là một người to béo, xơi đầy mỡ  đời, và cuộc sống chỉ có tiền là đáng kể”. Chiểu từng cưới Thanh để lấy của hồi môn, có của hồi môn rồi, hắn tính kế bỏ vợ bằng thủ đoạn âm mưu thâm độc mượn tay người tình giết chết vợ, người tình vào tù còn bản thân hắn  hưởng lợi. Người ta hẹn hò tình tự bên nhau để được hạnh phúc nhưng nhân vật Dậu trong Giăng soi vườn cải lại chỉ muốn  hẹn hò với Mão để “đòi ở Mão những gì mà những người đàn bà thích hành đàn ông”. Truyện Cái áo người của người đã chết  nói về cái sự “chung tình” ở đời. Cái áo ấy là của Mậu gửi lại cho Tùng trước khi chết. Tùng “nâng niu trái áo lên giường ngủ của mình,… áp tấm áo lên mặt, hít mùi thơm nhè nhẹ từ chiếc áo đã từng khiến Tùng khắc khoải và khao khát mãi…; Anh ta quấn áo mà ngủ, để nằm mê thấy Mậu về cùng mình… Đêm nào cũng vậy thành ra cái áo phảng phất có một hồn người”. Song chỉ được hơn hai tháng anh ta đã cưới vợ. “Chiếc giường ngủ của anh ta giờ đây đã có hẳn một người con gái đủ xương thịt đến ngồi và nằm xuống” nó làm cho Tùng quên dần tấm áo cũ. Tấm áo của người đã chết bị cất xuống đáy hòm rồi lại  bị người vợ Tùng lôi ra khỏi hòm trao lại cho Tùng để chàng tự định liệu số phận của nó. Tùng một mình trong gian nhà nhỏ trải chiếc áo của Mậu lên giường như trước kia, ôm chiếc áo lên vuốt ve, hít lấy mùi hương của áo, đặt mình nằm lên chiếc áo như ngày nào nhưng không còn thấy cảm giác giống ngày xưa nữa. Tùng sinh ra hồ nghi: “Chiếc áo mất thiêng hay lòng chàng đã đổi khác?” Câu hỏi  phải chăng là điều tác giả muốn thay cho lời kết một câu chuyện tình buồn, để gợi lên một sự thực về cái tình bạc bẽo ở con người…

Biết bao thói xấu của con người trong cái xã hôi thành thị Việt Nam đương thời bị Thâm Tâm đem giãi lên trang giấy. Càng  đi sâu khám phá thế giới truyện ngắn Thâm Tâm càng thấy cuộc đời thật buồn, thật đen tối bởi lối sống cá nhân vị kỷ, bởi sự nhẫn tâm, giả dối của con người trong cái xã hội hiện đại lúc bấy giờ.

3. Những chi tiết nghệ thuật mang màu sắc hiện thực đời thường
 
Mỗi tác phẩm văn học bao giờ cũng được xây dựng nên từ những chi tiết mang tính nghệ thuật còn gọi là chi tiết nghệ thuật. “Chi tiết nghệ thuật là các chi tiết đóng vai trò “vật liệu xây dựng làm tiền đề cho cốt truyện phát triển thuận lợi và hợp lí hoặc các chi tiết nghệ thuật thể hiện cấu tứ của tác giả (…) thường tác giả nhấn mạnh, tô đậm, lặp lại bằng nhiều biện pháp khác nhau. Chi tiết nghệ thuật thường gắn liền với quan điểm nghệ thuật về thế giới và con người với truyền thống văn hóa nhất định” [1. tr 51]

Chất liệu nghệ thuật trong sáng tác truyện ngắn của Thâm Tâm được khai thác trực tiếp từ đời sống xã hội đương thời chứ không phải ở một thế giới nào khác. Những chi tiết nghệ thuật trong truyện ngắn của ông đều mang tính xác thực của đời sống xã hội lúc bấy giờ.

Chi tiết “cuốn vở kỷ niệm” trong câu chuyện Bài học của đời trong quyển vở chẳng phải là một chi tiết nghệ thuật mang tính chất đời thường hay sao. Cuốn vở kỷ niệm đó thực ra là một cuốn lưu bút ta thường gặp trong đời sống học đường. Trong truyện, cuốn vở kỷ niệm này là một trong số 28 cuốn sổ lưu bút của 28 thành viên cùng học chung một lớp đã ra trường và bước vào đời viết lẫn cho nhau. Cuốn vở ấy trở thành vật dẫn chuyện để bạn đọc thấy được sự tha hóa dưới tác động dữ dội của lối sống thực dụng ở một số người.

Chiếc áo của người đã mất” trong câu chuyện cùng tên cũng chỉ là một kỷ vật đời thường ai cũng có thể có nó nhưng đã được Thâm Tâm lựa chọn làm tiền đề dẫn dắt người đọc vào khám phá một thực tế về sự đổi thay trong lòng người khi cuộc sống mới cuốn họ đi. Không phải chiếc áo mất thiêng mà bởi lòng Tùng đã khác.

Chi tiết  “Mậu vô tình hắt con chim sẻ nhỏ bị thương vừa rơi trúng chân mình xuống lưng chừng đồi trong cơn thoi thóp” không chỉ ám ảnh mãi trong tâm trí Ất để rồi anh ta quyết định xa rời cô, không yêu thương cô nữa. Hành động vô tình nhẫn tâm của Mậu năm nào đã được tác giả nhấn mạnh lại trong hành động phũ phàng khi Ất khi bị Mậu làm mất mặt bới cơn ghen giữa phố. Sau hàng động nhẫn tâm của Mậu, con chim sẻ nhỏ chỉ còn thoi thóp thở. Sau hành động xô ngã Mẫu một cách phũ phàng cùng những lời nói cay độc, Mão như con chim nhỏ bị thương ngã rục xuống không gượng dậy được nữa.  Kết cục số phận của Mão và con chim sẻ nhỏ năm nào có sự tương hợp. Cô sa chân vào cuộc sống trụy lạc Cô đã liều lĩnh “làm điếm” cái đời mình để trả thù đàn ông và rồi ôm mối hận suốt đời. Thâm Tâm thực sự đã đạt được dụng tâm nghệ thuật khi đưa chi tiết đời thường về cách ứng xử của con người với con vật bé nhỏ một cách vô tình vào lối ứng sử giữa con người và con người để phản ánh một thực tế: đôi khi con người ta chỉ vì lòng ích kỷ mà trở nên nhẫn tâm mà không hề biết đến hậu quả của nó.

Chuyện tặng quà kỷ niệm, tặng chút tiền bạc trước lúc bạn đi xa hay tổ chức tiệc lớn, tiệc nhỏ để chia tay, kỷ niệm cái tình bằng hữu; chuyện mua tặng bạn chiếc vé xe, chuyện tiễn đưa người bạn ở bến tàu xe đâu phải là chuyện xa xôi, không tìm thấy trong cái đời thực của chúng ta. Vậy mà dưới ngòi bút Thâm Tâm những hành vi, việc làm rất đời thường  ấy lại trở thành chất liệu nghệ thuật để tác giả phơi bày cái bộ mặt giả dối của“tình bằng hữu” trong xã hội kim tiền lúc bấy giờ qua một câu chuyện mang màu sắc trào phúng sâu sắc Một cuộc tiễn hành vô cùng cảm động. Người ta làm tất cả những việc ấy đâu phải vì cái tình thực đối với bạn mà vì cái sĩ diện của bản thân. Xét đến cùng đó là những hành vi tự đánh bóng bản thân trước con mắt nhòm xét của người đời mà thôi. Những cử chỉ, việc làm tưởng chừng vụn vặt, đời thường ấy lại có ý nghĩa biểu đạt nghệ thuật khá cao, trở thành chất liệu nghệ thuật mang màu sắc châm biếm trào phúng đắt giá tạo sự hấp dẫn và lôi cuốn đối với bạn đọc.

4. Kết luận

Trong sự nghiệp văn chương của mình, bản thân Thâm Tâm căn bản vẫn đứng trên lập trường của một nhà văn lãng mạn chứ không phải là nhà văn hiện thực nên chất hiện thực trong sáng tác của ông không đậm đặc như trong sáng tác của các nhà văn hiện thực phê phán đương thời. Mỗi câu chuyện của ông mặc dù vẫn chứa đựng trong nó hơi hướng lãng mạn nhưng cơ bản là hiện thực bởi nó được viết với cảm quan hiện thực chứ không phải xuất phát từ cảm nhận của một nhà thơ lãng mạn về đời sống hiện thực đương thời. Chúng ta có thể xem đây là một trong những tiêu chí để đánh giá  đúng, công bằng về giá trị truyện ngắn Thâm Tâm trong nền văn xuôi hiện đại Việt Nam.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1- Lê Bá Hán chủ biên(1999) Từ điển thuật ngữ văn học, NXBĐHQGHN

2- Phan Cự Đệ (2004) Văn học Việt Nam thế kỷ XX , NXBGD

4- Văn Giá (2000)  Thâm Tâm truyện ngắn, NXBVHTT


Tác giả Lê Thị Xuân Liên là Thạc sĩ Ngữ văn, hiện công tác tại Trường Đại học Tây Bắc

 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email



Những bản tin khác:



Lên đầu trang
Các bản tin mới đăng
Ông Phạm Xuân Nguyên từ chức: Nỗi niềm kẻ ở, người đi
Đàn Ca Tài Tử Nam Bộ, Hóa thân từ Nhã Nhạc Cung Đình Huế và là cấu trúc nghệ thuật sân khấu Cải Lương.…
Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội tuyên bố từ chức, xin ra khỏi Hội
Thơ Minh Đức Hoài Trinh (1930-2017)- Hoa Kỳ
Vĩnh biệt Nhà thơ Minh Đức Hoài Trinh*
Tại sao thần Vệ Nữ có ngón chân trỏ dài hơn ngón chân cái?
Lê Mai: HOA TRẠNG NGUYÊN
Chuyện kể của kẻ “lêu lổng” nhất Liên bang Xô viết
Chùm thơ Yên Hồ Trần Quốc Thường
Đinh Ngọc Diệp: Chùm thơ thứ Nhất
Tin cùng chủ đề
Lặng lẽ Nguyễn Thành Long
Hoàng Đức Lương - Quan niệm thi học và thơ
Nguyễn Bảo Sinh-nhà thơ dân gian có chất “Bút Tre”
Lần theo mối tình Chí Phèo - Thị Nở
Trí khôn nhà văn ở đâu?
Nhà thơ Việt Phương: “Nhân chi sơ, tính…phức tạp”
CHÂU HỒNG THUỶ: Nếu tôi là Puskin
Một người Việt làm thơ bằng tiếng Nga
Phê bình văn học - Trường hợp Trương Tửu
Lưu Quang Vũ và một quãng đời, một quãng thơ thường bị bỏ quên
 
 
 
Thư viện hình