Tin tức  |  Diễn đàn  |  Thư viện hình  |  Liên hệ
Thứ sáu,
23.06.2017 00:32 GMT+7
 
 
Kho bài viết
Tháng Sáu 2017
T2T3T4T5T6T7CN
      1 2 3 4
5 6 7 8 9 10 11
12 13 14 15 16 17 18
19 20 21 22 23 24 25
26 27 28 29 30    
 <  > 
Nhận thư điện tử
Email của bạn

Định dạng

Thành viên online
Thành viên: 0
Khách: 1
Số truy cập: 810272
Tin tức > Trang Văn trong nước > Xem nội dung bản tin
Trần Vân Hạc: Chùm văn xuôi
[25.03.2017 17:27]
Xem hình
Bố tôi kể rằng lúc sinh thời cụ nội tôi chỉ dùng duy nhất trà ướp sen. Cụ tôi cho rằng uống trà mộc là để thưởng thức cái tinh tuý của trà, còn uống trà ướp sen, hương vị trà tinh khiết hoà cùng hương hoa cao sang làm cho con người như đạt tới sự thoát tục, giúp mỗi người có thể chiêm nghiệm được quá khứ, hiện tại và tương lai trong mối giao hoà thiên - địa - nhân sâu sắc.


HƯƠNG TRÀ SEN

Bố tôi cẩn trọng treo vế câu đối chữ nho khảm trai đã ngả vàng vì thời gian lên ban thờ. Đây là vế câu đối trong bộ câu đối gia bảo mới tìm lại được sau mấy chục năm thất lạc do giặc giã loạn lạc.

Ông lấy bộ ấm chén cổ mầu da lươn của cụ nội tôi để lại thường cất kỹ trong tủ ra lau rửa cẩn thận rồi bảo tôi lấy chậu than và chiếc siêu đồng cổ ra quạt than đun nước. Tôi biết bố tôi chỉ dùng bộ ấm chén này khi thờ cúng. Khi nước sôi ông lựa loại chè quý do chính ông tự tay sao suốt và ướp sen rất công phu pha một ấm. Chờ chè ngấm ông nhẹ nhàng rót ra những chiếc chén mỏng tang dâng lên bàn thờ rồi thành kính thắp hương khấn vái. Nhìn nét mặt, tôi biết ông đang cố nén nỗi xúc động, lát sau khi đã tĩnh tâm bố tôi bảo:

- Con uống nước đi, chè ướp sen này xưa cụ nội con thường dùng.

Tôi bồi hồi nâng chén trà, trong tĩnh lặng của sớm mai, hương sen man mác, dư vị của trà ngon và hương hoa thanh cao hoà quyện, tinh thần, chợt thư thái lạ lùng.

Hướng về phía bàn thờ đang toả hương thơm ngát, bố tôi trầm ngâm:

- Đây là một vế trong câu đối xưa cụ con rất quý. Câu đối này do một người bạn tri âm tặng trong một lần hội ngộ, vừa thưởng thức trà sen, vừa ngâm thơ xướng hoạ.

Quê tôi ở xã Hiền Lương - huyện Hạ Hoà - tỉnh Phú Thọ. Căn nhà của cụ tôi để lại ngay bên sông Hồng, phía thượng nguồn là Gành Hạc, theo truyền thuyết đây là nơi xưa chim Hồng Hạc thường về đậu. Trước nhà là cánh đồng thẳng cánh cò bay và một đầm sen rộng gần chục mẫu. Mỗi khi hè về đầm sen đua hoa ngát hương cả một vùng "rừng cọ, đồi chè, đồng xanh" quê tôi. Vào thu sen tàn, nhưng sức sống diệu kỳ vẫn ẩn sâu dưới lớp bùn để mùa xuân năm sau lại bừng dậy hoàn sinh nuột nà.

Thuở còn thơ, không biết bao lần tôi tròn mắt lắng nghe chuyện Mẹ Âu Cơ đưa năm mươi người con lên đây khai đất vỡ hoang và dạy cho dân biết cấy biết cày. Rồi khi xuống đón Mẹ Âu Cơ về trời, các nàng tiên đã ẩn trong những đoá sen để tránh những ánh mắt phàm tục và những đêm trăng sáng đôi khi vẫn văng vẳng từ hồ sen khúc nghê thường. Đầm sen ngày ấy là cả một thế giới linh thiêng và huyền bí với tôi. Sau này lớn lên mỗi lần về thăm quê, từ xa ánh mắt mới chạm vào bóng đa xanh thẫm và mái đền cổ kính, nghe thoang thoảng trong gió hương sen thân thuộc, là trong tôi lại bồi hồi xúc động với một tình cảm trong sáng, máu thịt và ấm áp lạ thường.

Tôi được các cụ cao niên trọng họ kể rằng, thời trai trẻ cụ tôi là người ngay thẳng, trung thực, nhân hậu và rất giỏi trong kinh doanh. Cụ cùng một số người thân tín tổ chức làm ăn, nhờ vậy kinh tế gia đình khá giả. Song cụ luôn ủng hộ giúp đỡ các phong trào yêu nước và những cảnh đời cơ nhỡ. Cụ tôi luôn răn dạy con cháu: "chữ hiếu, chữ trung là cái gốc của đạo làm người. Con người ta sống không phải chỉ cho riêng mình mà còn phải biết sống vì nước, vì dân". Ngôi nhà của cụ tôi ngày ấy có một tầng gác xinh xắn có tên là "nguyệt cầm hiên". Đây là nơi lâu lâu cụ tôi cùng bạn bè tâm giao cùng chí hướng đàm đạo về thế sự, thưởng thức trà sen, ngâm vịnh thơ phú.

Bố tôi kể rằng lúc sinh thời cụ nội tôi chỉ dùng duy nhất trà ướp sen. Cụ tôi cho rằng uống trà mộc là để thưởng thức cái tinh tuý của trà, còn uống trà ướp sen, hương vị trà tinh khiết hoà cùng hương hoa cao sang làm cho con người như đạt tới sự thoát tục, giúp mỗi người có thể chiêm nghiệm được quá khứ, hiện tại và tương lai trong mối giao hoà thiên - địa - nhân sâu sắc.

Do ảnh hưởng của cụ tôi nên ông nội tôi sớm giác ngộ cách mạng. Chính vì vậy, năm 1930 ông nội tôi bị chính quyền thực dân phong kiến bắt giam tại đề lao Phú Thọ với tội danh tiếp tay cho cuộc khởi nghĩa Yên Bái của ông Nguyễn Thái Học. Không khuất phục được ông cụ, chúng lại giở chiêu bài dụ dỗ, phong cho ông nội tôi hàm: "Hàn lâm thị độc", xong ông nội tôi khảng khái từ chối. Năm 1943 ông nội tôi dùng tiền của tổ chức và của gia đình vào xã Hạ Bằng La (Văn Chấn - Yên Bái) mở đồn điền trồng chè để làm cơ sở đón các chiến sỹ cách mạng vượt ngục từ Sơn La, Nghĩa Lộ về. Ông nội tôi đã anh dũng hy sinh năm 1951 khi đưa đoàn dân công của huyện Hạ Hoà đi phục vụ chiến dịch Hoà Bình.

Từ ngày tìm được vế đối của tổ tiên, tôi bao lần trăn trở muốn tìm hiểu nội dung, để rồi qua đó ít nhiều có thể hiểu thêm về các bậc tiền nhân. Duyên may qua con đường viết văn, viết báo, tôi quen thân với một ông giáo già vốn xuất thân từ một ông đồ xứ Nghệ. Trong một lần cùng ông thưởng thức trà sen tôi đã được ông chân tình chỉ dạy:

- Đây là câu đối của một bậc văn tài, trượng nghĩa, yêu lẽ phải và công bằng, mang một nỗi niềm đau đáu về dân tộc, về gia phong, ẩn chứa một ý chí, hoài bão và niềm tin vào tương lai của đất nước và con cháu. Cũng vì vậy không thể chỉ dựa vào từ điển mà có thể hiểu được ý nghĩa sâu xa của người xưa.

Vuốt chòm râu trắng như cước, ông giáo già ngâm nga vế câu đối:

"Anh Vũ loa thâm phiên tế lãng"

Dừng lạc giây lát như cân nhắc điều gì, ông giáo trầm ngâm:

- Vế câu đối thật là hóc hiểm. Nếu chiết tự thì "Anh" có nghĩa là đứa trẻ mới sinh, song "Anh Vũ" cũng là một loại cá quý có ở sông Bạch Hạc. Nhưng khi kết hợp với "loa" là con ốc, là những vòng tròn tiếp nối nhau tuần hoàn bất tận thì đã nảy sinh những ý nghĩa mới là con ốc biển đẹp và quý hiếm. Ông giáo già lưu ý với tôi nhân dân vùng duyên hải, đặc biệt là ngư dân dùng vỏ ốc Anh Vũ làm tù và. Nhưng đó không chỉ là dụng cụ phóng thanh mà còn là mệnh lệnh, thông điệp. Người xưa truyền tụng rằng mỗi khi tù và bằng ốc Anh Vũ cất tiếng, âm thanh dường như vẫn đọng lại ngàn đời trên sóng nước, có sức truyền cảm mạnh mẽ, tương thanh tương khí về lòng người, về thế sự. Tù và bằng ốc Anh Vũ là vật thiêng, không phải ai cũng được dùng và biết dùng cho hiệu quả, mỗi khi dùng đến là báo hiệu có việc trọng đại, linh thiêng của một dòng họ, một làng, một tổ chức.

Từ đó khi hiểu "thâm" là sâu, sâu của không gian và thời gian, sâu của ân đức và lòng người, "phiên" là phản hồi, lật trở lại, "tế" là rất nhỏ, "lãng" là sóng nước phải chăng có thể hiểu rằng: Tiếng tù và bằng ốc Anh Vũ từ sâu thẳm, từ ngàn xưa vẫn vọng lại thôi thúc, được sóng nước êm ả li ti phản hồi lan toả đến vô cùng vô tận?

Tôi hiểu rằng nếu áp đặt cho vế đối một ý nghĩa nhất định nào đó theo ý mình sẽ là sự nông cạn, hời hợt và xúc phạm. Song lời cắt nghĩa của ông giáo già khiến tôi rưng rưng xúc động. Từ sâu thẳm dâng lên lòng kính trọng đối với công sức, tâm tư, tình cảm của tổ tiên.

Từ lâu gia đình tôi nuôi một ý nguyện xây dựng một vế đối thay cho vế đối đã bị mất, thể hiện tấm lòng của con cháu. Dù được nhiều bậc cao niên gợi ý cho một số vế đối mà vẫn phân vân khó quyết được.

Anh em tôi công tác xa, ở quê chỉ có gia đình người chú ruột, nhưng hàng năm chúng tôi từ mọi miền đất nước đều xum họp nơi mảnh đất thân yêu. Bao giờ anh em tôi cũng thắp hương báo cáo với tổ tiên những bước đi, những thành công và cả những thiếu sót, vấp ngã trên đường đời. Mỗi thành viên trong đại gia đình đều thấy như được tiếp thêm niềm tin và sức mạnh, gắn bó với nhau hơn. Bao giờ anh em tôi đều cùng con cháu quây quần nơi gác "nguyệt cầm hiên" đắm mình trong hơi thở hôi hổi một sức sống mới của quê hương. Con sông Hồng vẫn êm ả trôi xuôi, cần mẫn bền bỉ chuyên chở phù xa bồi đắp những cánh đồng mầu mỡ. Bình minh xôn xao trên sóng nước lăn tăn lan xa tới tận chân trời. Hương lúa đồng hoà quyện cùng hương sen ngào ngạt. Chúng tôi xúc động giở từng trang gia phả của dòng họ. Ngoài kia nhịp sống mới đang hối hả. Những con đường hiện đại toả đi muôn nơi, những công trình mang tầm thời đại, những ngôi nhà mới xây tươi rói, những ánh mắt nụ cười tin yêu, ngôi đền Mẹ Âu Cơ nhân từ bao dung ấm áp, quá khứ và hiện tại đan xen. Ôi mảnh đất quê hương, nơi đã sinh ra và nuôi dưỡng nên biết bao người con ưu tú. Biết bao người đã không tiếc máu xương, công của để bảo vệ và xây dựng, trong đó có những người thân yêu của gia đình lớn chúng tôi. Đâu đây như vẫn vang vọng tiếng tù và bằng ốc Anh Vũ trầm hùng trên sóng nước. Trong tôi bỗng vụt hiện lên vế đối do ông giáo già gợi ý:

"Hạc Âu đức viễn khải thuần phong"

Đúng rồi! Tuy không dám nói đối lại vế đối của tổ tiên. Nhưng lịch sử của giống nòi, nơi phát tích và trưởng thành của dòng họ, tiếng gọi đàn của chim Hạc, chim Âu, tiếng của Mẹ Âu Cơ gọi nhớ Lạc Long Quân từ buổi chia tay lên ngàn xuống biển. Công đức to lớn sâu xa của tổ tiên, công đức ấy khởi nguồn cho ngọn gió lành. Sóng không chỉ là sóng đơn thuần mà còn mang giá trị nhân văn sâu sắc. Gió không chỉ là gió, mà còn là thuần phong mỹ tục con cháu nguyện với cha ông giữ gìn nếp nhà - gia phong trong bước chuyển mình của quê hương đất nước trên con đường hội nhập với bạn bè năm châu. Cái gia phong có tính bản ngã ấy đã được công đức của tổ tiên gây dựng từ ngàn xưa mãi mãi sâu nặng và trường tồn.

Tôi thanh thản thắp nén hương trầm trên bàn thờ tổ. Cơn gió mát lành từ cánh đồng biếc lúa thoang thoảng hương sen lồng lộng thổi. Tôi bỗng mỉm cười và đọc thành lời câu đối:

"Anh Vũ loa thâm phiên tế lãng

Hạc Âu đức viễn khải thuần phong".


KHÈN MÔNG VÀ VŨ ĐIỆU CỦA NGÀN XANH

Ai đã một lần được thả hồn trong những bước nhảy điêu luyện của các chàng trai Mông trong điệu múa khèn, đều có chung cảm giác như được hòa cùng vũ điệu của ngàn xanh. Những động tác dân vũ mạnh mẽ, uyển chuyển như hội tụ tinh hoa của cuộc sống lao động, vũ điệu của non ngàn, sự hòa đồng của con người với thiên nhiên và sự sinh sôi, đầy tinh thần thượng võ được thể hiện vô cùng tinh tế.

Do tính chất mạnh mẽ đòi hỏi sự dũng cảm, nhanh nhẹn, khéo léo, tài hoa với nhiều yếu tố nghệ thuật và kỹ thuật cao, nên chỉ có nam giới tham gia. Điệu múa độc đáo này thường được tổ chức trong các cuộc vui, các lễ hội như: hội sài sán - hội chơi núi đầu xuân, hội gầu tào - lễ hội cầu tự, những phiên chợ xuân…

Các nhà nghiên cứu đã thống kê có tới hơn 30 động tác trong điệu dân vũ này như: đi thường, nhảy đưa chân, nhảy lướt, quay đổi chỗ, bước lượn, vờn khèn, đá gót, ngồi quay, chọi gà, nhảy ngang đạp chân, bước trườn, bước lượn, ngoáy chân, đánh chân tại chỗ, quay di động, quay nhích gót, lăn khèn… trong đó mô-típ chủ đạo là quay hất gót tại chỗ và quay hất gót di động trên vòng quay lớn rồi thu hẹp dần theo hình xoáy ốc. Cuộc sống lao động, chiến đấu chống kẻ thù hai chân và bốn chân, khát vọng yêu đương… được thể hiện tinh tế trong những vũ điệu đẹp mắt, tài hoa, dũng mãnh và trữ tình. Có những điệu múa vô cùng khó như điệu lăn khèn vì người múa khèn phải vừa ôm khèn vừa lăn mình trên đất, tiếng khèn vẫn không bị đứt quãng, âm vực không thay đổi, có lúc người múa khèn còn chồng cây chuối dựng đứng thân mình mà dòng suối âm thanh vẫn dạt dào tuôn chảy, điệu múa đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật, hoành tráng đầy chất trữ tình.

Điều thú vị và rất khó là trong khi thể hiện các điệu múa dù khó đến đâu thì tiếng khèn không được để ngắt quãng hoặc lỗi nhịp.

Xin nói đôi chút về khèn Mông. Khèn Mông được chế tác bằng gỗ pơmu là hộp cộng hưởng cùng sáu ống trúc lớn, nhỏ, dài, ngắn khác nhau, có lưỡi gà bằng đồng tạo ra một hệ thống âm thanh trong sáng, tiếng khèn có thể cùng lúc phát ra nhiều âm thanh, nhiều bè, vang xa trầm hùng như tiếng của gió ngàn trong lá, của dòng nước đang reo vui êm ả trôi xuôi, thác đổ, chim kêu, vượn hót…. Dòng suối âm thanh tuyệt diệu ấy, chảy mãi từ ngọn nguồn lịch sử văn hóa dân tộc cho đến tận bến bờ hiện tại, vươn tới tương lai.

Khèn Mông thường được sử dụng trong hai trường hợp: đám tang để tỏ lòng xót thương, luyến tiếc người quá cố; trong vui chơi để thi thố tài nghệ, bộc lộ bản chất ý chí, nghị lực của con người trong sinh hoạt cộng đồng. Con trai từ 13 tuổi đã có cây Khèn trên vai mỗi khi lên nương, xuống chợ. Có thể nói khèn là nhạc cụ không thể thiếu trong sinh hoạt cộng đồng của người Mông, trở thành biểu trưng của văn hóa Mông. Người Mông đời này kế tiếp đời khác đều dạy con trai vươn đến đỉnh cao của nghệ thuật thổi và múa khèn. Đã là con trai Mông thì điều đáng quý và trân trọng nhất đầu tiên là phải biết chơi khèn.

Các nhà nghiên cứu và du khách sau khi tìm hiểu đều vô cùng khâm phục, vì người Mông thích nghe tiếng khèn, thích thổi khèn và múa khèn bởi thông qua sinh hoạt văn hóa ấy, người ta thêm yêu lịch sử của dân tộc, tình mẫu tử, huynh đệ sắt son bền chặt và về lẽ sống làm người chứ không phải chỉ là lời tỏ tình như một số người vẫn lầm tưởng.

Tiếng khèn làm các cô gái bồi hồi say đắm, xòe ô bước trong vũ điệu tình yêu và đánh thức tiếng lòng của bất kỳ ai duyên may một lần thưởng thức.

Với các chàng trai Mông, Thổi khèn hay, múa khèn giỏi là một trong những tiêu chí để đáng giá tài năng đức độ và để các cô gái lựa chọn bạn tình. Tiếng khèn như sợi chỉ hồng xe duyên đôi lứa.

Điệu múa khèn Mông đã được dàn dựng trên sác sân khấu chuyên nghiệp, được trình diễn trên nhiều san khấu trong và ngoài nước, được bạn bè quốc tế khâm phục và tán thưởng và dành được nhiều giải thưởng của trung ương và các địa phương.

Khèn Mông và điệu múa khèn độc đáo trở thành tài sản văn hóa vô giá không chỉ của riêng người Mông, mà còn là món quà tinh thần đặc sắc cho những ai duyên may một lần được thưởng thức.

HOA TÍM HỒN QUÊ

Không biết ai đã mang giống cây ô-rô về trồng ở quê tôi tự bao giờ. Miền trung du quê tôi đất đá ong cằn cỗi, vậy mà ô-rô xanh tốt từ năm này qua năm khác. Màu xanh biếc khiêm nhường tỏa ra từ hàng rào bao quanh những nếp nhà mái cọ hiền lành. Màu xanh viền theo những con đường làng đã trở nên thân thiết với tuổi thơ tôi. Sau này mỗi lần về thăm quê, ánh mắt mới chạm vào hàng ô rô dịu dàng hoa tím, là bước chân lại tự nhiên sải gấp và lồng ngực rộn lên bồi hồi khó tả.

Mỗi độ xuân về, các bờ giậu ô-rô đồng loạt trổ hoa. Trên muôn cành hé nở những bông hoa xinh xinh năm cánh thuần một màu tím dịu dàng đằm thắm. Trong làn gió xuân nhẹ thổi, hàng ô-rô nghiêng nghiêng rắc xuống sân nhà, đầu ngõ, đường làng muôn vàn hoa tím, xao động như chiếc khăn voan hờ hững trên vai người thiếu nữ tuổi xuân. Tôi cùng lũ bạn trong làng lớn lên qua từng mùa hoa tím, mỗi mùa hoa chứa chất bao kỷ niệm. Tới ngày Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, tôi cùng lũ trai làng tình nguyện lên đường nhập ngũ. Chính trong giờ phút chuẩn bị lên đường, tôi chợt nhận ra bao bịn rịn lưu luyến với từng góc sân, đường làng, bờ cây hoa tím và ánh mắt thân thương của người bạn gái. Hai nhà chung một giậu hoa, buổi hẹn hò, chúng tôi đứng tâm sự với nhau bên hàng rào phủ đầy sắc tím, hai đứa bối rối ngắt từng cánh hoa ô-rô chẳng nói nên lời, hoa tím rắc đầy dưới chân hai đứa. Hồi ấy khi biết chuyện, cha tôi chỉ nhẹ nhàng nhắc:

- Con ạ! Làm thân trai phải nuôi cái chí vẫy vùng, chớ vội vướng vào vòng thê nhi…

Bao mùa hoa qua đi tôi mới có dịp trở về. Đến ngõ, tôi hồi hộp dừng chân giây lát bên bờ giậu. Ô-rô vẫn xanh tốt qua bao đạn bom ư? Hoa tím vẫn nở bất chấp thời gian nghiệt ngã ư? Bất giác tôi đưa tay run run sờ lên những chiếc lá xanh, lá như tay ai mềm mại thân thuộc đến nao lòng! Mùi nhựa cây, mùi hoa nhè nhẹ quyện với hơi thở của đất đai, ruộng đồng, phả vào lòng tôi một cái gì thật máu thịt, thật là da diết. Tôi lặng đi, rưng rưng khi thấy bóng mẹ tảo tần, lưng gù dần theo năm tháng.

Bình minh ở quê tôi, màu tím của hoa ô rô hòa với tiếng gù trầm ấm của chim cu gáy, nghe mơ màng xa xăm như quá khứ vọng về. Tôi ngỡ mình sống lại tuổi thơ, chân đất, đầu trần, tóc khét nắng gió, mỗi bước chân sáo reo vui mỗi con đường tím thân thương. Những buổi hoàng hôn, nắng chưa kịp tàn, vầng trăng chiều lơ lửng trên mái cọ, màu tím hơi thẫm lại như đang trầm ngâm sâu lắng điều gì. Tôi cứ ước ao:

Ánh sáng diệu kỳ vào những chiều hôm

Xin cứ tỏa trên mái nhà của mẹ

(Ê-xê-nin)

Ơi màu hoa tím! Màu hoa tím bình dị thân thương từ lúc nào đã khắc sâu trong tâm khảm tôi như ngọn lửa nồng ấm trong những ngày xa quê, tưởng như chẳng có gì nhưng lại là tất cả. Những năm tháng trên chiến trường gian khổ, đạn bom và cái chết luôn rình rập từng giây, màu hoa tím cùng ánh mắt thân thương của người bạn gái và dáng mẹ tảo tần ngóng đợi đã tiếp thêm sức mạnh cho tôi vượt lên cái chết, chiến thắng quân thù. Hoa tím là hơi, là hồn của mối tình đầu trong sáng, là quê hương yêu dấu trong tôi.

CÂY ĐA - GIẾNG NƯỚC - SÂN ĐÌNH

Trong các ngôi làng cổ vùng đồng bằng Bắc Bộ, ta thường gặp một mô típ quen thuộc: Cây đa - Giếng nước - Sân đình. Bao thế hệ sinh ra và lớn lên, bao thăng trầm biến động của thời gian, Cây đa - Giếng nước - Sân Đình còn đó đã ăn sâu vào tiềm thức mỗi người.

Cây đa - Giếng nước - Sân đình được coi là biểu tượng của làng quê Việt Nam, là nơi diễn ra những sinh hoạt cộng đồng, nơi hẹn hò gặp gỡ xe duyên cho bao đôi lứa, đồng thời cũng là nhân chứng của lịch sử và ẩn chứa những quan niệm về vũ trụ của nhân dân ta.

Những năm tháng sơ khai trong lịch sử dân tộc, trước nhu cầu trị thủy, khai phá đất đai, chiến đấu chống kẻ thù hai chân và bốn chân, người Việt cổ có nhu cầu rất lớn về sự đoàn kết để tạo nên sức mạnh của cộng đồng. Những con người vì nghĩa lớn hy sinh thân mình được nhân dân tôn vinh thờ phụng. Trong dân gian vẫn lưu truyền quan niệm: “Thần cây đa, ma cây gạo”.

Sau mỗi mùa bội thu hay khi đã hoàn thành một công việc trọng đại, dân làng lại tập trung ở sân đình chung vui. Theo thời gian, sinh hoạt cộng đồng trở thành một bộ phận không thể thiếu trong đời sống mỗi người.

Đình là nơi thờ Thành Hoàng và là nơi họp làng. Đây cũng là nơi tổ chức những lễ hội truyền thống văn hóa: Hội Lim, hội hát Xoan, hội võ vật đầu xuân…

Cây đa - Giếng nước - Sân đình còn là nơi hẹn hò, gặp gỡ nên duyên cho bao đôi lứa:

Hôm qua tát nước đầu đình

Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen…

Câu ca dao tình tứ, ý nhị sống mãi với thời gian như tình yêu bất tử.

Dân tộc Việt Nam vốn yêu chuộng tự do, hòa bình, nhưng kẻ thù không để chúng ta yên. Nhân dân ta đã anh dũng đứng lên chống lại kẻ thù xâm lược. Đặc biệt từ khi có Đảng, những người nông dân với tình yêu quê hương đất nước lại từ giã ngôi nhà thân thương, từ giã mảnh vườn, thửa ruộng đã gắn bó biết bao kỷ niệm của mình cầm súng lên đường đánh giặc:

Ruộng nương anh gửi bạn thân cày

Gian nhà không mặc kệ gió lung lay

Giếng nước, gốc đa nhớ người ra lính

(Đồng chí - Chính Hữu)

Nhà thơ Chính Hữu đã phát hiện điểm sáng trong tình cảm của những người nông dân mặc áo lính. “Giếng nước, gốc đa” nhớ hay các anh luôn mang theo tình cảm của quê hương? Các anh chiến đấu hy sinh vì những điều bình dị, thân thương nhưng rất đỗi thiêng liêng máu thịt:

Anh đi để giữ quê  hương mình

Lời thề nhớ buổi mít tinh lên đường

(Bao giờ trở lại - Hoàng Trung Thông)

Cây đa - Giếng nước - Sân đình còn là nơi ghi lại những sự kiện trọng đại, những dấu son bước trưởng thành của cách mạng Việt Nam:

Mình về còn nhớ núi non

Nhớ khi kháng chiến thuở còn Việt Minh

Mình đi mình có nhớ mình

Tân Trào Hồng Thái mái đình cây đa

(Việt Bắc - Tố Hữu)

Đất nước được độc lập, người dân được tự do, mặt trời cách mạng làm rạng rỡ thêm những giá trị tinh thần cao quí, những giá trị lịch sử và văn hóa của dân tộc. Dân tộc Việt Nam mãi mãi nhớ ơn lãnh tụ vô cùng kính yêu. Bác Hồ sống mãi trong lòng những người dân đất Việt. Trong gian tiền sảnh của Bảo tàng Hồ Chí Minh, Người đứng đó vẫy tay chào, phía sau là cây đa cổ thụ, tượng trưng cho truyền thống dân tộc sâu gốc bền rễ, tỏa bóng mát xum xuê cho đời và trên cao là mặt trời cách mạng soi sáng mỗi bước đi của dân tộc.

Trong quan niệm của người xưa, vũ trụ có ba tầng bốn thế giới. “Thiên -Địa - Nhân” là ba lực lượng có tương quan và quan hệ mật thiết với nhau. Cây đa chính là biểu tượng của cây vũ trụ, vừa phân cách, vừa là cầu nối với trời.

Với nhiều dân tộc trên thế giới, những cái giếng không đáy, con sông Stic, hay sông Mê… chính là nơi để người chết gột rửa và rũ bỏ quá khứ của mình trước khi hồi sinh và sống trong một thế giới khác.

Phải chăng chính từ quan niệm thế giới ba tầng thông tỏ và giao cảm ấy, mà từ xưa trong các làng cổ Việt Nam luôn hình thành, tồn tại bộ ba: Cây đa - Giếng nước - Sân đình, để rồi tự lúc nào đã trở thành biểu tượng thân thương của làng quê Việt Nam, là kỷ niệm cao đẹp không thể nào quên về nơi chôn nhau, cắt rốn của mình. Mỗi người dù ở lứa tuổi nào, sống ở chân trời góc biển nào, vẫn neo đậu lòng mình nơi quê hương yêu dấu, nơi có bao kỷ niệm dưới bóng đa mát rượi ríu rít tiếng chim chuyền cành, hay bên giếng làng trong vắt, dưới mái đình trang nghiêm mãi mãi dấu yêu.

TIẾNG CỦA ĐẠI NGÀN

 Mỗi ban mai Hà Nội, khi bình minh ngưng lại giây lát trên cầu Thê Húc, rồi dịu dàng lan tỏa sáng trong mỗi con đường, góc phố, tôi như tan hòa trong những tiếng chim lảnh lót chào ngày mới. Vậy mà sao trong lòng vẫn bồn chồn, khắc khoải, day dứt với cảm giác như vẫn thiếu một cái gì rất đỗi thân thương, gắn bó. Chẳng khác nào một mình xa quê giữa chốn phồn hoa, chợt da diết nhớ về quê hương yêu dấu, nơi có người mẹ hiền nắng mưa tần tảo, người cha nghiêm nghị nhưng độ lượng bao dung, người vợ dịu hiền thủy chung chờ đợi… và tiếng chim xanh ngắt giữa đại ngàn hòa cùng mây trời gió núi...

Tây Bắc gắn bó với tôi mấy chục năm trời: Yên Bái, Sơn La, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên… những con sông Hồng, sông Lô, sông Đà, sông Chảy… những con suối Thia, suối Tiên, suối Mơ, Nậm Na, Nậm Rốm… chở đầy lịch sử và huyền thoại, lúc dịu dàng như áng mây đầu núi, lúc như chú ngựa bất kham tung vó chốn thảo nguyên. Những cánh rừng huyền bí miên man bất tận, hôi hổi một sức sống diệu kỳ. Những con đèo quanh co uốn lượn ù ù gió hú đầy những bất ngờ thích thú. Đây đó những ngôi nhà sàn ấm áp khói lam, thấp thoáng bóng ai dịu dàng sắc chàm, tay búp măng rừng gọi lúa lên xanh, gọi ngô mẩy hạt, giục bông hóa thân thành muôn sắc mầu thổ cẩm lung linh như bẩy sắc cầu vồng, hay nồng say trong vòng xòe rực lửa… và mỗi bình minh cao vút những tiếng chim xanh ngắt bản hòa tấu của nhạc sỹ thiên tài của thiên nhiên, ngân rung tinh tế, thánh thiện sự giao hòa của đất trời và tình người huyền diệu, say đắm đam mê đến nao lòng.

Cái kỳ thú đến ảo diệu của những tiếng chim rừng Tây Bắc chính là cái quyền lực và ma lực vô hình tưởng như bất tận, đem lại một nguồn năng lượng mới, giục giã thôi thúc vạn vật khát sống, khát tìm tòi khám phá vươn lên không bao giờ cạn. Khi vạn vật còn đắm mình trong giấc ngủ sương giá, chợt giật mình e không bắt kịp vòng xoay của tạo hóa, dẫu còn như ngái ngủ, thoáng giật mình rồi vươn vai cất lên bản hòa tấu của đại ngàn hòa cùng vòng quay minh triết của vũ trụ. Những tiếng chim rừng như mũi tên rời dây ná của một xạ thủ kỳ tài xuyên qua tĩnh lặng, đánh thức muôn loài. Muôn hạt mầm và những lá xanh non thoáng chút ngỡ ngàng xòe đôi mắt biếc, rì rào gọi nhau vươn cành xanh tán. Những hạt sương trong vắt, tinh khôi, bỗng hồng tươi, ngời lên roi rói như chuỗi vòng của tiên nữ mải vui trong khúc nghê thường, rơi xuống trần gian. Các bản mường còn chìm trong sương bỗng rộn vang tiếng nói, tiếng cười, tiếng các thiếu nữ gọi nhau ra suối lấy nước, chuẩn bị ra ruộng, lên nương. Tiếng chày cối nước thậm thình như nhịp trái tim của suối. Tiếng mõ trâu đàn lốc cốc ấm cúng. Tiếng chú gà trống gáy vang gọi mặt trời đầy quyền uy. Tiếng gà mái cục tác nhảy ổ. Tiếng mèo kêu nũng nịu. Tiếng chó sủa thân thuộc…

Trên cái nền tráng lệ của ngàn xanh cùng mây trời gió núi và nhịp sống sớm mai ấy, vút lên những tiếng chim đầy sinh lực, với những giai điệu hào hoa, tuyệt vời đầy chất ngẫu hứng được bàn tay tài tình của vị thần âm nhạc vô hình điều khiển. Mỗi giọng ca đều là tuyệt tác của tạo hóa, hài hòa cộng hưởng, thăng hoa đến tuyệt đỉnh trong dàn đại hợp xướng. Tiếng trầm như tiếng sấm mùa xuân. Tiếng thanh như gió reo, lá hát, như tiếng khèn xuân cất cao những cung bậc bất tận của tình yêu. Có âm thanh du dương, khoan thai nhẹ nhàng như cánh bướm dập dờn trong vũ điệu giao duyên, lúc réo rắt sang trọng kiêu kỳ, nhưng thầm kín cao sang. Có tiếng thì thầm như dòng nước mang trong mình bao tâm sự, như lời của đôi bạn tri âm tri kỷ. Lúc ríu ran như bầy trẻ nhỏ vô tư, hồn nhiên trong khúc đồng dao trong sáng. Khi rộn ràng hùng tráng như tiếng kèn xung trận, trầm hùng như nhịp cồng chiêng ngày hội, như những bước xòe nồng say gọi lúa lên xanh, ủ hồng bếp lửa mùa hạnh phúc. Lúc thổn thức, day dứt như nỗi nhớ người thương khi gió lạnh về. Khi như lời duyên e ấp của đôi người yêu nhau hẹn ngày xây tổ; có lúc như khẩn cầu chân thành, đắm đuối, khi hân hoan niềm hạnh phúc ngập tràn. Có lúc ấm áp như nắng xuân hồng gọi cây đời xanh mãi. Có khi chợt lặng đi như lắng chút suy tư trải nghiệm, bi tráng, rồi chợt vút cao lảnh lót tiếng vĩ cầm réo rắt ngân một khát vọng xanh. Lúc mong manh tơ mảnh, như một lời nhắc nhở phải biết trân trọng nâng niu những gì đã có... Có lúc cả dàn nhạc say mê hùng tráng trong khúc cao trào, lúc tất cả lặng đi nhường cho giọng ca tuyệt vời của giọng opera lĩnh xướng. Bầy chim thi nhau trổ tuyệt kỹ trước bình minh, kể cho nhau bao câu chuyện buồn vui của những tháng ngày trong hành trình nhân thế, trao nhau muôn lời yêu.

Trong tiếng chim rừng Tây Bắc như có ánh ban mai tràn ngập núi rừng, sáng trên ngọn cỏ biếc, ngời trên sóng bạc, nâng áng mây hồng e ấp đầu non. Có ngọn gió thơm trên áng tóc mây như làn rêu suối. Có những tà áo chàm thấp thoáng, nếp váy thổ cẩm đong đưa, mặn mòi thương nhớ. Có bóng ô hồng tinh nghịch nghiêng chao. Có tiếng đàn môi, kèn lá thầm thì tình tứ. Có nụ cười hàm tiếu hoa ban. Có dáng mẹ áo bạc mầu yêu thương trăn trở. Ăm ắp ánh vàng ruộng bậc thang dập rờn sóng nhạc mùa no ấm. Có tiếng gió reo vi vút đầu non. Có tiếng róc rách của những dòng suối hát. Có tiếng thác đổ ầm vang… Tất cả hòa quyện vào nhau, hài hòa cộng sinh trong sự sinh tồn và phát triển của tạo hóa.

Đã bao lần được thả hồn trong tiếng chim rừng tuyệt diệu của ngàn xanh Tây Bắc, vậy mà lần nào tôi cũng tràn ngập một cảm giác lạ lẫm, nguyên sơ; chẳng khác nào tuổi hoa niên, một sáng mùa xuân, chợt nhận ra trong ánh mắt trong veo của cô bạn gái tóc đuôi gà những tia sáng bồi hồi, lạ lẫm, như một dòng điện nhẹ lan tới từng tế bào cơ thể, thắp lên ngọn lửa tình yêu trinh trắng đầu đời. Tiếng chim như nối đất với trời, như sợi tơ hồng se bao duyên thắm, đánh thức vạn vật, đơm hoa kết trái dưới ánh mặt trời.

Ôi! Có bản nhạc nào tài hoa, diệu kỳ, bất tử đến say lòng như thế! Tiếng chim như những giai điệu thần tiên, đánh thức những hạt mầm tốt đẹp trong ta, để rồi ta chợt nhận ra: Cuộc sống vốn tươi đẹp biết nhường nào, chỉ có điều ta có biết trân trọng nâng niu và phấn đấu vì một ngày mai tươi sáng hơn hay không? Tiếng chim như hòa vào máu thịt, làm ta thêm quí trọng sự hiện hữu của chính ta trên đời, để rồi trong buổi sáng tinh sương này, ta nhủ thầm một câu hỏi lớn: Ta đang sống hay ta chỉ tồn tại như chiếc bóng lờ mờ?

Nguồn: toquoc.vn

Tin liên quan:
Vĩnh biệt Nhà thơ Trần Vân Hạc (25.03.2017 17:42)
Hạt Cát Diệu Sinh: Khóc Trần Vân Hạc (25.03.2017 16:46)
Chùm thơ Trần Vân Hạc (25.03.2017 16:29)
Mai An Nguyễn Anh Tuấn: Tưởng nhớ Trần Vân Hạc (25.03.2017 16:09)
Chén rượu giao thừa - Trần Vân Hạc (24.01.2012 00:49)
 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email



Những bản tin khác:
Lê Mai: HOA TRẠNG NGUYÊN (31.05.2017 20:07)
Lê Mai: CÚN KHÓC (14.11.2016 17:42)



Lên đầu trang
Các bản tin mới đăng
Ông Phạm Xuân Nguyên từ chức: Nỗi niềm kẻ ở, người đi
Đàn Ca Tài Tử Nam Bộ, Hóa thân từ Nhã Nhạc Cung Đình Huế và là cấu trúc nghệ thuật sân khấu Cải Lương.…
Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội tuyên bố từ chức, xin ra khỏi Hội
Thơ Minh Đức Hoài Trinh (1930-2017)- Hoa Kỳ
Vĩnh biệt Nhà thơ Minh Đức Hoài Trinh*
Tại sao thần Vệ Nữ có ngón chân trỏ dài hơn ngón chân cái?
Lê Mai: HOA TRẠNG NGUYÊN
Chuyện kể của kẻ “lêu lổng” nhất Liên bang Xô viết
Chùm thơ Yên Hồ Trần Quốc Thường
Đinh Ngọc Diệp: Chùm thơ thứ Nhất
Tin cùng chủ đề
Me tây
Thung Lam
Chùm truyện ngắn Mini của Vũ Thanh Hoa
Lần đầu bên nhau ( phần 1)
Nguyễn Huy Hoàng - Tìm con, chăm bạn, làm thơ
Lần đầu bên nhau (phần 3)
I am đàn bà
Truyện ngắn mini - Đỗ Ngọc THạch
Lần đầu bên nhau (phần 2)
Tình qua tin nhắn
 
 
 
Thư viện hình