Tin tức  |  Diễn đàn  |  Thư viện hình  |  Liên hệ
Thứ bảy,
27.05.2017 12:12 GMT+7
 
 
Kho bài viết
Tháng Năm 2017
T2T3T4T5T6T7CN
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30 31        
 <  > 
Nhận thư điện tử
Email của bạn

Định dạng

Thành viên online
Thành viên: 0
Khách: 1
Số truy cập: 798314
Tin tức > Nghiên cứu-Phê bình-Chân dung > Xem nội dung bản tin
Thiếu Khanh: The Birth of Vietnam của Keith Weller Taylor (Phần 1)
[17.11.2016 21:32]
Dịch và ngẫm nghĩ (Thay lời dịch giả)

Năm 1924 một người dân làng Đông Sơn, ngôi làng quê phía trên cầu Hàm Rồng, cách tỉnh lỵ Thanh Hóa vài cây số, đi câu cá, tình cờ nhặt được vài món cổ vật thời tiền sử. Từ đó người ta phát hiện và khai quật một nền văn hóa khảo cổ tại ngôi làng này, và tên Đông Sơn nhanh chóng trở thành một địa danh lừng lẫy trong giới sử học không những ở Việt Nam mà cả quốc tế.

Mười năm sau, năm 1934, nhà khảo cổ học người Áo Heine Geldern R, đề xướng gọi nền văn hóa khảo cổ phát hiện ở Đông Sơn là “Văn hóa Đông Sơn.” Chủ nhân của nền văn hóa đó đã sống cách đây trên 3000 năm. Tuy nhận thấy tính bản địa rõ rệt của nền văn hóa này, nhưng hầu hết các học giả thời đó đều không tin đó là một nền văn hóa của người Việt cổ, và cho nó là một nền văn hóa ngoại lai, của Tàu hoặc thậm chí của… châu Âu!.

Dù sao, sự phát hiện nền văn hóa khảo cổ rực rõ Đông Sơn với các kết quả công bố của các học giả Trường Viễn Đông Bác Cổ (l’École française d'Extrême-Orient) tại Hà Nội, đã lôi cuốn nhiều nhà bác học Việt Nam và thế giới lao vào nghiên cứu và phát hiện nhiều nền văn hóa khảo cổ khác trên đất nước Việt Nam và các quốc gia lân cận trong vùng Đông Nam Á, nhân đó vấn đề tìm hiểu nguồn gốc dân tộc Việt Nam được đặt ra.

Cho đến thế kỷ XX, vấn đề nguồn gốc dân tộc Việt Nam cùng với mức độ văn minh và những sinh hoạt cổ thời của dân tộc nhất là trong thời chưa có sử thành văn, vẫn còn là một khoảng trổng tri thức được tạm lấp bằng những truyền thuyết mơ hồ từ cổ sử Tàu.

Sau 40 năm với nỗ lực nghiên cứu của nhiều học giả trong và ngoài nước, nhiều nền văn hóa khảo cổ khác trên khắp nước, nhất là ở miền Bắc, được khám phá, khai quật, nghiên cứu, và với nhiều tiến bộ cả trong ngành khảo cổ và nghiên cứu cổ sử thành văn (nhà nghiên cứu Bình Nguyên Lộc gọi chung là Khảo Tiền sử), sự hiểu biết đã tạm đủ cho một cuốn sách thành hình. Và cuốn “Việt Nam Thời Khai Sinh” của sử gia Nguyễn Phương, giáo sư tại Viện Đạị học Huế, xuất bản năm 1965, dường như là tác phẩm đầu tiên bước đầu tổng kết các kết quả nghiên cứu “khảo tiền sử” cả trong Nam và ngoài Bắc. Cho đến đó, dường như chưa có một tác phẩm lịch sử Việt Nam nào về thời kỳ cổ sử này, dưới dạng sách hoàn chỉnh,  chứa đựng các kết quả nghiên cứu “thực địa” về khảo cổ học (phần lớn cho tới đó là do các nhà bác học nước ngoài, và Trường Viễn Đông Bác Cổ thực hiện). Cuốn sách của Giáo sư Nguyễn Phương gồm hai phần; phần đầu dành nghiên cứu các kết quả khảo cổ học, phần thứ hai là khảo sát lại các cổ thư Trung quốc, nguồn tư liệu thành văn chính và quan trọng về cổ sử của Việt Nam. Cuốn sách của Giáo sư Nguyễn Phương dựa trên các kết quả khảo cổ học cho tới lúc đó, và soi xét lại nguồn cổ thư Trung quốc, đã đề xuất một số quan điểm và phát kiến mới về chủng tộc và ngôn ngữ học đã làm bối rối không ít người có quan tâm đến lịch sử dân tộc.

Cho tới nay, bộ sách cổ về Lịch sử Việt Nam được coi là đề cập thời kỳ lịch sử dài nhất, là bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư tục biên viết bằng chữ Hán, ghi chép từ thời thượng cổ đến thế kỷ XVII, thời của các soạn giả dưới sự chủ biên của quan đại thần Phạm Công Trứ.  Bộ sách này chép nối tiếp bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của sử gia đời Lê là Ngô Sĩ Liên ở thế kỷ XV. Mà bộ sách của Ngô Sĩ Liên là căn cứ theo và tổng hợp bộ Đại Việt Sử Ký của sử gia Lê Văn Hưu đầu đời Trần thế kỷ XIII, và Đại Việt Sử Ký Tục biên của Phan Thu Tiên, sử gia đầu thời Lê sơ thế kỷ XIV, có thêm phần Ngoại kỷ chép các truyền thuyết dân gian từ các sách Việt Điện U Linh Tập của Lý Tế Xuyên và Lĩnh Nam Chích Quái của Trẩn Thế Pháp (/Vũ Quỳnh). Dù vậy phần thượng cổ của dân tộc trong hai bộ sử sau cũng chỉ giành được một số trang ít oi ở phần đầu cuốn sử. Và các truyền thuyết nặng tính hoang đường không có mấy giá trị lịch sử. Thậm chí, trong cuốn Việt Nam Sử Lược, sử gia Trần Trọng Kim chỉ dành cho họ Hồng Bàng, và thời sử chưa thành văn trải dài qua nhiều ngàn năm trong vỏn vẹn có 5 trang giấy!.

Thế nên, sử gia Nguyễn Phương dành cả cuốn sách Việt Nam Thời Khai Sinh chỉ chép về thời thượng cổ và mấy thế kỷ đầu Công nguyên, là một sự kiện mới trong ngành sử học Việt Nam thời đó.

Do tình hình đất nước chiến tranh, kết quả nghiên cứu từ các nhà sử học hai miền tuy được công bố nhiều (phần nhiều hơn có lẽ ở miền Bắc) nhưng từ đó không / chưa có tác phẩm nào khác được xuất bản tổng hợp tư liệu về thời kỳ mở đầu lịch sử dân tộc. Cho đến năm 1983, gần 20 năm sau cuốn sách Việt Nam Thời Khai Sinh của Giáo sư Nguyễn Phương, mới thấy xuất hiện thêm một tác phẩm lịch sử Việt Nam khác, với qui mô phạm vi khảo sát trùng với phạm vi của Giáo sư Nguyễn Phương. Và lần này một tác phẩm sử học về Việt Nam nhưng không phải của một học giả Việt Nam mà của một học giả ngoại quốc, một giáo sư sử học người Mỹ. Đó là cuốn sách The Birth of Vietnam của Giáo sư tiến sĩ Keith Weller Taylor.

The Birth of Vietnam khảo sát quá trình dựng nước của dân tộc Việt Nam; tác giả giới hạn thời gian đối tượng nghiên cứu từ thời tiền sử tới khi nước Việt Nam giành được độc lập từ đế quốc Trung Hoa đời nhà Đường, vào thế kỷ X.

60 năm sau ngày phát hiện nền văn hóa khảo cổ Đông Sơn, hàng trăm di chỉ văn hóa khảo cổ khác trên khắp đất nước cũng đã được khảo sát; người ta sắp xếp, đối chiếu các kết quả nghiên cứu chúng để có một khái niệm rõ về trình tự phát triển liên tục theo thời gian của nền văn minh văn hóa Việt Nam từ thời kỳ Đồ Đá cũ với các di chỉ sơ kỳ ở Núi Đọ, Thanh Hóa…, đến thời Đồ Đá giữa nổi tiếng với Văn hóa Hòa Bình có dấu vết phát sinh nông nghiệp nguyên thủy; thời kỳ Đồ Đá mới với các nền văn hóa Bắc Sơn, Quỳnh Văn… đến thời kỳ văn hóa Đồ Đồng rực rỡ với các giai đoạn văn hóa khảo cổ nổi tiếng có tính cột mốc tiến hóa như các nền văn hóa Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun,… Và cuối cùng là thời kỳ Đồ Sắt với tên tuổi các nền văn hóa Đông Sơn, Đường Cồ, Đào Thịnh… Đó là các dấu mốc của quá trình phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam. Điều này khiến tác giả, Giáo sư K. W. Taylor không cần phải đặt riêng phần khảo cổ học cho cuốn sách của mình (như Giáo sư Nguyễn Phương đã làm trong Việt Nam Thời Khai Sinh). Ông chia cuốn sách làm 7 chương và khảo sát từng lãnh vực trong mỗi chương. Đó là các Chương:

1. Các hào trưởng Lạc (Lạc Lords)
2. Kỷ nguyên Hán Việt.
3. Chủ nghĩa cát cứ và thời Lục Triều (ở Trung quốc)
4. Sự cai trị của các thế lực địa phương ở Việt Nam trong thế kỷ VI
5. Thời kỳ (nhà Đường đặt) An Nam Đô hộ phủ.
6. Sự đương đầu giữa đế quốc Đường và nhân dân / dân tộc Việt Nam.
7. Nền Độc lập giành lại được.

Và phần Phụ Lục để giải thích một số khái niệm và nguồn gốc hay nền tảng của một số sự kiện lịch sử đề cập trong cuốn sách.

Cũng như tác phẩm Việt Nam Thời Khai Sinh của Giáo sư Nguyễn Phương, cuốn sách The Birth of Vietnam ra đời đã nhận được sự chú ý của nhiều người đọc quan tâm đến lịch sử. Ở Việt Nam cuốn sách được tặng giải thưởng của Quỹ Phan Châu Trinh của giới học giả nghiên cứu ở Đà Nẳng cùng với nhiều lời tán thưởng nồng nhiệt từ độc giả trong và ngoài nước. Tuy nhiên cuốn sách không tránh khỏi vài thiếu sót nhỏ. Sự phàn nàn đầu tiên người đọc dành cho cuốn sách The Birth of Vietnam của giáo sư Keith Weller Taylor, là nhằm vào nguồn sách tham khảo. Một học giả nhận thấy nguồn tham khảo của tác giả là ít quá, trong khi chính bản thân vị học giả đó có hơn trăm bộ sách về đề tài này trong thư viện gia đình của mình. (Ôi, tiếc biết bao số bảo vật bị cất giữ trong kho!)

Ảnh bìa sách. University of California Press, 1991

Do thiếu sự phong phú về tư liệu tham khảo, theo vị học giả này nhận xét, tác giả không có nhiều chi tiết cho các sự kiện đề cập trong sách được chính xác hơn. Và cũng do sự tham khảo thiếu sót này, tác giả có một lý giải buồn cười về ý nghĩa của từ Giao Chỉ: “Giao chỉ có nghĩa lã “bàn chân giao nhau” và có ý nói đến tập quán người ngủ thành từng nhóm quay đầu ra ngoài, các bàn chân chụm lại ở giữa!”

Không chỉ vị học giả này mà có lẽ bất cứ ai có hiểu biết căn bản về lịch sử Việt Nam cũng nhận thấy lý giải của tác giả về từ Giao Chỉ là kỳ quặc, và vô căn cứ.

Có chỗ tác giả có ghi nhận không trùng hợp với tư liệu lịch sử về thời điểm diễn ra trận đánh trên sông Bạch Đằng.

Tư liệu tham khảo bị cho là thiếu, nhưng tác giả có vẻ có thừa một số tư liệu chưa được kiểm tra; chẳng hạn ông dẫn lời của học giả người Nhật Gotō Kimpei, trong sách “Betonamu Kyuugoku Kōsō Shi” (Nghiên cứu cổ sử Việt Nam) cho rằng từ Lạc là một âm khác của từ Lạch hay Rạch, tức các kênh mương nhỏ dẫn nước (vào ruộng); và ở một chỗ khác ông cho rằng “có nhiều tuồng tích dân gian chung quanh các hành động vĩ đại và những công trạng mang tính siêu nhân của Mã Viện được trình diễn ở Việt Nam” để tưởng nhớ y! Mã Viện là tên Phục Ba Tướng quân nhà Hán đã đánh dẹp cuộc kháng chiến của hai chị em Bà Trưng.

Tuy vậy, cuốn sách The Birth of Vietnam của Giáo sư K. W. Taylor có nội dung tích cực hơn so với cuốn Việt Nam Thời Khai Sinh của Giáo sư Nguyễn Phương trước đây. Điều này không lạ, vì người đi sau trong nghiên cứu thường có dịp… “đứng trên vai người đi trước” nên có được tầm mắt xa và rộng hơn.

Chương đầu tiên của cuốn sách nói về các “hào trưởng Lạc.”  Đây là một phát hiện thú vị. Thực ra, sự phát hiện này là… không phát hiện gì cả. Tác giả là một người Tây phương nhìn vào cổ sử Việt Nam với con mắt mới mẻ, không mang định kiến trước, nên không nhìn thấy một ông Lạc hầu hay Lạc tướng nào trong “triều đình các vua Hùng” trong thời đại Hùng Vương như các sử sách của ta thường đề cập.

Các sách lịch sử truyền thống của ta khi nói về thời đại Hùng Vương thường viết các vua Hùng “đặt tướng văn gọi là Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc tướng” (Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Việt Nam Sử Lược, và vân vân). Đó là do các sử gia của ta tham khảo sử liệu Trung quốc và viết theo quan niệm tổ chức triều đình của họ.

Thật ra thời các “Vua” Hùng không hề có một hình thức triều đình với bá quan văn võ và các tổ chức ban bệ như triều đình Trung quốc – mà ta thường thấy trong truyện và phim Tàu. Thế nên, những người được sử gọi là Lạc hầu, Lạc tướng, là không hề có; hoặc họ không phải là quan tước chính quy của triều đình, mà chỉ là các tù trưởng bộ lạc, hay những người được gọi là “hào trưởng”, thường là địa chủ, giàu có, có nhiều thế lực và uy tín ở địa phương, cai quản một số dân cư trong khu vực chịu ảnh hưởng của họ. Gọi họ là các “Chúa Lạc” (Lạc lords) như cách gọi của tác giả có vẻ cường điệu quá đáng. Họ chỉ là các “hào trưởng” thôi. Lê Lợi ở thế kỷ XV cũng được sử coi là một hào trưởng như thế. Tác giả biết nghĩa của từ Lạc hầu, và từng dịch chữ Lạc hầu thành “Lạc Marquis”, nhưng trong suốt cuốn sách, khi nói đến họ, thay vì gọi họ là Lạc Marquis, tác giả chỉ gọi họ là Lạc lords - “Những hào trưởng Lạc.” Họ, các “hào trưởng” ấy, và các “vua Hùng” không có quan hệ vua tôi, mà sống nương tựa vào nhau. Tác giả viết: Dường như các vua Hùng bảo vệ các hào trưởng Lạc chống lại sự tấn công và xâm lấn từ các vùng núi, trong khi các vị hào trưởng Lạc hỗ trợ các vua Hùng bằng sức ngưởi và của cải của họ”  . Các hào trưởng Lạc này có thể gây áp lực với các “vua” Hùng trong một số vấn đề nhất định. 

Vì những người được sử cũ gọi là Lạc hầu, Lạc tướng chỉ là những “hào trưởng” dân sự, chớ không phải quan tước triều đình, cho nên khi Thục Phán “đánh chiếm” nước Văn Lang, ông ta không phải giao chiến với các Lạc hầu Lạc tướng nào. Trong nước Nam Việt của Triệu Đà, các hào trưởng Lạc vẫn tồn tại bên ngoài triều đình. Lộ Bác Đức đánh chiếm Nam Việt, y cũng không hề bắt bớ giết chóc một Lạc hầu, Lạc tướng nào cả, mà để yên cho các hào trưởng Lạc quản lý dân chúng trong khu vực của họ như cũ. Về các hoạt động của Lộ Bác Đức ở Nam Việt, tác giả viết: “Tuy vậy, những biến cố này không làm xáo trộn cuộc sống của người dân, và vị thế của các hào trưởng Lạc vẫn không thay đổi.”  

Vì các hào trưởng Lạc không phải là Lạc hầu Lạc tướng gì của triều đình nên không phải là đối tượng đánh giết của quân Hán. Tác giả viết: “trong thời gian này phần lớn các hào trưởng Lạc vẫn còn giữ vững đất đai và kiểm soát được dân chúng của họ.” 

 Khi Mã Viện đánh hai Bà Trưng, sử chép y giết hàng vạn người nhưng không có một dòng nào nói y giết một Lạc hầu hay Lạc tướng, vì giai cấp này không hề tồn tại, chỉ có các hào trưởng dân sự mà cho đến khi nhà Hán đồng hóa họ vào ngạch quan lại và cấp cho họ “ấn đồng tua thau” thì họ mới trở thành người của chánh quyền cai trị chính nhân dân mình. Và “các hào trưởng Lạc phải đối diện với sự chọn lựa hoặc trở thành quan lại cấp dưới trong chánh quyền Hán hoặc phải làm lính ra chiến trường.” 

Đó là chuyện “Lạc hầu”.

Trong suốt cuốn sách, dường như tác giả không một lần nào đề cập đến các “Lạc tướng.” Lý do là người Việt cổ thời Hùng vương không duy trì quân đội chính quy nên không hề có ông tướng nào để gọi là Lạc tướng cả! Khi cần chiến đấu chống kẻ địch nào đó, người dân tự biến thành chiến sĩ dưới quyền chỉ huy của…các mẹ, các chị! “Trong xã hội Lạc người phụ nữ có vị thế tương đối cao. Như chúng ta sẽ thấy, khi các hào trưởng Lạc nổi lên chống lại ảnh hưởng ngày càng nặng nề của Trung quốc, các cuộc nổi dậy của họ đều do phụ nữ lãnh đạo.” 

Vậy, chấm dứt huyền thoại lâu đời về chuyện Lạc hầu, Lạc tướng.

Trận đánh của Ngô Quyền trên sông Bạch Đảng diễn ra vào mùa đông năm 938 nhưng tác giả sách The Birth of Việt Nam ghi nhầm vào mùa thu. Dù vậy, ông hiểu rõ ý nghĩa của sự việc này.  “Trận đánh trên sông Bạch Đằng và sự nổi lên của Ngô Quyền là một sự kiện cực kỳ lớn lao gây rúng động cả dân tộc. Từ đây họ có thể tưởng tượng được một vị vua Việt Nam của mình;”  tác giả đã ghi một nhận định bình thường nhưng từ đó chúng ta có thể hiểu ra một điều quan trọng mà cho đến nay dường như chưa một sử gia nào gợi ý: “Ngô Quyền đặt việc xưng vương của mình vào truyền thống vương quyền của đất nước.” 

Và “Ngô Quyền củng cố việc xưng vương của mình với sự tôn trọng phù hợp với quan niệm của người dân bản địa về quyền lực chính trị.” 

Tiến sĩ K. W. Taylor nói đến “truyền thống vương quyền” và “phù hợp với quan niệm của người dân bản địa về quyền lực chính trị,” nhưng có lẽ chính ông cũng chưa nhận ra nội hàm rất đặc biệt trong từ Vương của “truyền thống vương quyền” của người Việt Nam.

Vương là một từ thuộc ngữ hệ Nam Á (Austroasiatic), hay nói cách khác, nó là từ “thuần Việt” được người Tàu viết với dạng biểu ý nên nó có vỏ chữ Tàu, chớ nó không phải là “tiếng Hán”. 

Chữ  “Vương” gồm ba vạch ngang song song (三)hội ý tượng trưng tam tài Thiên – Địa – Nhân, và một vạch dọc ở giữa nối liền ba gạch ngang ( 王 ). Vậy Vương ngụ ý là người “nối thông tam tài,” hoặc đấng liên kết con người với trời đất. Trong ngữ nghĩa đó, Vương là một hiền giả, một nhà minh triết của nền văn minh nông nghiệp, hiểu rõ lẽ nhân sinh và thiên văn địa lý, chớ không phải người cai trị chính trị (vua). Có lẽ trong mỗi cộng đồng dân cư người Việt nguyên thủy với nền văn minh nông nghiệp sơ khai đều có một nhà lãnh đạo tinh thần là Vương mà quyền lực chính là uy tín cá nhân người đó.

Với vai trò “nối thông tam tài” hoặc “liên kết con người với trời đất” có lẽ vương gần với một pháp sư hơn. Hoặc vương là pháp sư của một cộng đồng. Sách (Đại) Việt Sử Lược viết: “Vào thời Chu Trang Vương (696 – 682 trước CN) ở Gia Ninh có một dị nhân dùng pháp thuật thu phục tất cả các bộ lạc. Ông tự xưng là Hùng Vương.”  “Dị nhân dùng pháp thuật” chính là cách biểu thị một pháp sư. Cả nước có thể có nhiều “vương” (pháp sư) trong từng cộng đồng dân cư nhỏ, nhưng thỉnh thoảng xuất hiện một người có pháp thuật cao cường hoặc sự minh triết vĩ đại, uy tín bao trùm cả nước, như một bậc thánh nhân; người đó được tôn là Hùng Vương, nếu không phải tự xưng như sách (Đại) Việt Sử Lược nói. Vậy, HÙNG VƯƠNG CHỈ CÓ NGHĨA NÔM NA LÀ VỊ ĐẠI PHÁP SƯ hoặc vị PHÁP SƯ TRƯỞNG của quốc gia, với tất cả sự thiêng liêng và tôn nghiêm, có thể có cả sự huyền bí nữa, dành cho chức vị này, như thấy trong chế độ thần quyền của một số dân tộc thời sơ khai, và cả trong giới tăng lữ ở châu Âu tồn tại mãi đến thời Trung cổ. Điều này phù hợp với phát hiện mới về ngôn ngữ học: “từ Hùng có nguồn gốc từ một danh hiệu của người thủ lĩnh đến nay vẫn còn tồn tại trong ngôn ngữ của các dân tộc nói tiếng Môn-Khmer sống tại các vùng núi ở Đông Nam Á, cũng như trong tiếng Mường, thứ ngôn ngữ miền trung du gần gũi chị em với tiếng Việt.”  

Vậy, nghĩa nguyên thủy của Vương không phải là “Vua”. Hùng Vương không có nghĩa và không phải là “vua” Hùng, không có tính thừa kế liên tục. Ở đâu đó nhà ngôn ngữ học Trung quốc Vương Lực cho Vua là âm cổ của Vương là điều đáng ngờ. Hai từ đó phải chỉ hai thực thể khác nhau. Trong nền văn minh nông nghiệp hiền hòa với sự lãnh đạo của các vị vương đó, ông vua chưa có mặt.

Vương thì có nhiều trong các cộng đồng địa phương, nhưng Hùng Vương thì rất hiếm. Có thể hàng trăm năm mới xuất hiện một người. Điều đó cắt nghĩa tại sao trong suốt thời gian 2622 năm chỉ có 18 ông Hùng Vương (mà trong Việt Nam Sử Lược, sử gia Trần Trọng Kim tính bổ đồng mỗi ông trị vì đến gần 150 năm!)

Có người nói dạng kim văn của chữ Vương là tượng hình lưỡi rìu, (  ) với ý nghĩa người cầm lưỡi rìu là người nắm giữ quyền lực, tức là vua.  Kim văn là chữ tượng hình khắc trên đồ đồng từ đời nhà Thương được phát hiện tại các di chỉ ở Ân Khư, kinh đô nhà Thương, thuộc tỉnh Hà Nam, Trung quốc. Người ta biết lưỡi rìu là vũ khí đặc trưng của người Việt cổ. (Vũ khí đặc trưng của người Tàu là kiếm). Nhìn hình dạng lưỡi rìu người ta nghĩ ngay đến một ông vua người Việt (chớ không phải một ông vua nào khác.)  Thế nhưng hình cái lưỡi rìu không chứa trong nó nội hàm lớn lao là Vương đạo mà người Trung quốc cổ rất ngưỡng mộ nhưng không theo, và Không tử dành cả đời để thuyết giảng nhưng không vua chúa nào chịu nghe vì Vương đạo là truyền thống của người Việt. Hơn nữa, dạng giáp cốt văn của chữ Vương ( ) là hình một người (pháp sư) dang tay cầu khẩn (với trời đất.)

Người Trung quốc biết rõ Vương là một tôn hiệu mang một khái niệm ngoại lai chớ không phải từ bản ngữ với nội dung của tinh thần dân tộc họ. Trong toàn bộ lịch sử Trung quốc, chỉ có các vua nhà Chu (từ thiên niên kỷ I đến thiên niên kỷ II trước Công nguyên) xưng Vương.  Lý do là trước đó các bộ lạc du mục từ miền Tây Bắc nước Tàu cổ tràn xuống phương Nam, sống chung với đại chủng người Việt (mà người Tàu gọi là Yüeh) nói tiếng Nam Á, phía dưới sông Hoàng Hà, và bị tiêm nhiễm văn hóa Việt, nên các vua của họ mới xưng Vương theo người Việt. Nhưng như đã biết, trong văn hóa của người Việt, Vương là một hiền giả, một người minh triết, một đấng thánh nhân, có thể cũng nắm giữ vị trí lãnh đạo xã hội, chủ yếu bằng đức độ và sự minh triết, chớ không phải bằng quyền lực và vũ lực. Thiên Hồng Phạm trong Kinh Thư viết: "Thiên tử tác dân phụ mẫu, dĩ vi thiên hạ vương" 天子作民父母, 以為天下王 (Bậc thiên tử là cha mẹ của dân, làm vương thiên hạ.)  Tức nói về đức độ lãnh đạo của bậc vương, là Vương đạo, chớ không phải quyền lực cai trị. Cha mẹ thương yêu nuôi nấng dạy bảo con cái chớ không dùng quyền lực cai trị con cái bao giờ. Kinh Thư là một trong những tác phẩm kinh điển được viết vào thời nhà Chu tức thời “người Trung quốc cổ” chịu ảnh hưởng văn hóa Việt này.

Danh hiệu Bố Cái Đại Vương mà Phùng An tôn xưng người cha vĩ đại đã qua đời của mình là trong ý nghĩa đó.

Bố Cái Đại Vương = Đấng Cha Lành Vĩ Đại.

Chớ không phải “Vua cha mẹ vĩ đại.” Đại Vương không phải và không có nghĩa là “ông vua lớn.” Và Phùng Hưng không bao giờ là ông “vua lớn” hay ông vua vĩ đại cả.

Nhân đây, trong một ghi chú trong sách (số 96, dưới trang 204) tác giả viết: (trích): “Ý kiến của Haudricourt cho rằng “Bố Cái” phải được dịch là “vua cái”, “vua vĩ đại” (John DeFrancis, “Colonialism and language Policy in Vietnam,” (Chủ nghĩa thực dân và chính sách về ngôn ngữ ở Việt Nam, trang 22) là có lý và hấp dẫn, nhưng như thế là bỏ qua sự kiện trong văn bản của Việt Điện U Linh Tập giảỉ thích một cách rõ ràng rằng: ‘Vì, theo cách nói của người địa phương, người ta gọi cha là bố, và gọi mẹ là cái” (Việt Điện U Linh Tập, 6) (hết trích).

André-Georges Haudricourt là nhà nhân chủng học và ngôn ngữ học người Pháp của Trường Viễn Đông Bác Cổ.  Ông hiểu rõ từ “Cái” (Nhưng “Bố” là Cha chớ không phải là Vua.) Cái là một từ cổ trong tiếng Việt có nghĩa “chính,” “to lớn,” “quan trọng,” “đứng đầu”… Ví dụ Sông cái, đường cái, ngón tay cái, thợ cái (Thợ cái là người đứng đầu trong nhóm thợ)  v.v… Cái không bao giờ có nghĩa là Mẹ như được hiểu lầm. Trước kia tại một số địa phương ở miền Bắc và miền Trung, có người gọi mẹ là u, vú, hoặc vì một số lý do đặc biệt nào đó, có người có thể gọi mẹ là dì hay chị, nhưng không nơi nào có người gọi mẹ là là “Cái” bao giờ.

Trong câu tục ngữ “Con dại cái mang”, từ “Cái” không hề có nghĩa là mẹ. Cái là người lớn nhất, có vai trò quan trọng nhất trong gia đình. (Chỉ trong chế độ mẫu hệ, vai trò “cái” đó mới do người mẹ nắm giữ)

Dân tộc Việt Nam thuộc văn minh nông nghiệp; người Tàu nguyên thủy thuộc nền văn minh du mục. Từ nhiều ngàn năm trước người Tàu đã biết rõ sự khác biệt đó. Họ “vẽ” từ nước (quốc gia) của hai chủng dân bằng hai mặt chữ khác nhau. Chữ Quốc để chỉ quốc gia của những người Việt có vương đạo được vẽ một hình vuông bao bọc một chữ vương ở trong ( 囯 ): đất nước của văn minh nông nghiệp với vương đạo của các nhà hiền triết. Đó là chữ quốc “đơn” chỉ dùng để chỉ quốc gia của người Việt thôi, chớ bản thân người Tàu không bao giờ dùng; mà họ cũng không dùng nó để chỉ một quốc gia nào khác. Nếu coi chữ Vương là hình lưỡi rìu kim văn thì chữ Quốc ( 囯 ) càng mang nghĩa xác định nước của người Việt.

Ai học chữ Hán cũng biết, không kể chữ Quốc “đơn” với chữ Vương đó, hiện nay trong chữ Hán có hai chữ Quốc nữa, mà một, chữ quốc xưa, chữ quốc phồn thể, biểu hiện tính cách du mục của dân tộc Trung quốc.

Thoạt đầu người Tàu vẽ khái niệm quốc gia của minh bằng hai vạch ngang (二), ở giữa hai vạch là một cái ô vuông. Hai vạch tượng trưng trên là trời, dưới là… bãi chăn thả. Dưới trời và trên bãi chân thả là… người Tàu (cái ô vuông – chữ khẩu (口) – tượng trưng cho người). Trong cuộc sống du mục họ thường phải cạnh tranh giành bãi chăn thả của nhau, nên cần phải có vũ khí để bảo vệ - và để xâm lăng. Vạch ngang phía trên được vẽ thêm vài nét thành một món vũ khí – cái qua. (戈) (Can qua (干戈) là cái qua và cái khiên, hai món biểu tượng cho chiến tranh). Cụm hình vẽ đó gọi là chữ “hoặc “ hay “hoắc,” ( 或 ) hàm nghĩa “có người”.  Về sau, khi khái niệm quốc gia phát triển lên một mức cao hơn, họ vẽ thêm chữ “vi”, (囗) một ô vuông to hơn, bao bọc chung quanh chữ “hoặc” – như biên giới bảo vệ chỗ “có người.” – Đó là chữ Quốc phồn thể (國)  hàm nghĩa đất nước của người du mục, có vũ khí để xâm lăng và tự vệ.

 Năm 1949, trong khi cải tổ chữ viết họ nói chữ Quốc phồn thể nhiều nét rắc rối, khó nhớ quá, phải đơn giản thôi. Tuy vậy, họ vẫn không dùng chữ quốc minh triết của người Việt đã có sẵn từ nhiều ngàn năm. Họ sửa nó bằng cách thêm một dấu chấm vào cạnh nét sổ dọc của chữ Vương, biến chữ Vương (王) thành chữ ngọc ( 玉 ). Đó là chữ Quốc thứ ba, (国) giản thể, hiện nay, ngụ ý: Trung Quốc (中国) là đất nước của ngọc ngà châu báu (chớ không phải của Vương đạo - Vương đạo là thứ của dân tộc Việt thuộc văn minh nông nghiệp.)

Người Tàu biết rõ như thế, còn người Việt (xưa) có lãnh hội điều đó không?

Có.

Không những có biết mà tiền nhân ta đã tỏ ra rất tự hào về điều này.
Có một giai thoại kể chuyện trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi đi sứ sang Tàu. Trong một cuộc chiêu đãi các sứ thần ngoại quốc ngay tại triều đình Trung quốc, vị hoàng đế Trung quốc có ra đề thơ hay câu đối gì đó và yêu cầu các sứ thần đáp lại. Do ngôn ngữ bất đồng, các sứ giả phải dùng cách bút đàm. Bài thơ (hay câu đối) của trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi được chấm giải nhất, với lời nhận xét của vua Tàu: về sau con cháu sẽ “có nước”, nhưng vì trạng nguyên dùng chữ Quốc “đơn” nên phúc phận con cháu không nhiều.

Không xét chuyện “phúc phận” của con cháu Mạc Đĩnh Chi ra sao, chỉ cần thấy một ông trạng nguyên, chắc chắn là người học vấn giỏi nhất thiên hạ, từng đọc thiên kinh vạn quyển biết rõ người Tàu không đánh giá cao vương đạo của dân tộc mình, thế mà giữa triều đình của đại quốc, trước mặt “thiên tử” ông điềm nhiên viết ra cái hình vẽ rạng rỡ mang niềm tự hào dân tộc!

“Trong nền văn minh du mục, người lãnh đạo nắm toàn quyền cai trị và thống nhất xã hội bằng vũ lực. Chính sự bắt chước theo văn hóa Việt đã làm phân hóa xã hội của chủng dân du mục. Tước vị Vương của nhà Chu chỉ cho họ một điều thích hợp duy nhất là tôn người lãnh đạo lên bậc chí tôn, thiên tử, con trời. Nhưng vì không có quyền lực và vũ lực trong tay nên ông con trời đành bất lực nhìn đất nước phân tán nát bấy. Nhà Chu có tới tám trăm nước chư hầu. Tức là tám trăm bề tôi của cùng một ông vua đều mỗi người làm vua một cõi mà thiên tử nhà Chu yếu thế không có vũ lực trong tay, không làm gì được, kể cả khi đám bề tôi đó liên tục nhân danh thiên tử để triệt hạ và thâu tóm lẫn nhau.

“Vì thấy rõ cái Vương đạo của người Lạc Việt chỉ phù hợp cho chủng dân với nền văn minh nông nghiệp hiền hòa và minh triết, không thể áp dụng được cho chủng dân vốn xuất phát từ nền văn minh du mục, nên mặc cho Khổng Tử mang Vương đạo đi rao giảng khắp nơi mòn giầy lỏng gối mà chẳng ai thèm nghe theo.

“Khi Tần vương Doanh Chính thống nhất thiên hạ, ông ta quyết định xưng Đế theo truyền thống của người dân du mục trước đó. Thủy Hoàng Đế: Hoàng Đế đầu tiên.” (Thiếu Khanh, “Ai đã ru ngủ chúng ta?” http://www.art2all.net/tho/tho_tk/aidarunguchungta.html )

Xưng mình là Hoàng đế đầu tiên, Tần Thủy Hoàng đế mặc nhiên “xổ toẹt” tất cả truyền thống đã bị nhiễm văn hóa Việt trước đó để lập lại một truyền thống hoàn toàn mới của người Trung quốc.

Sao vậy?

Thì trong truyền thống cũ, các ông “đế” của chủng dân văn hóa du mục nhiễm văn hóa Việt và bắt chước người Việt xưng vương; các ông đế cũ trước đó được gọi tên theo trật tự ngữ pháp tiếng Việt, những Đế Thuấn, đế Nghiêu, đế Minh, đế Lai... không còn “thuần túy” nữa. Từ đó, từ sau nhà Tần trở đi, nước Tàu dù trải qua những thời kỳ chia năm xẻ bảy manh mún, (Lục triều, ngũ đại hay ngũ quý) các lãnh tụ chiến thắng lên ngôi đều xưng đế. Tất cả họ hiểu rõ mình không thuộc nền văn minh vương đạo nhu hòa của chủng người Lạc Việt.

Vì Hùng vương (Pháp sư trưởng) không phải là vua, ông ấy không cai trị cho nên không có triều đình với bá quan văn võ rành mạch như của Tàu. Cho rằng “Các vua Hùng duy trì uy thế với một cuộc sống triều đình sung túc, ” là không có cơ sở. Các “vua” Hùng có thể có những gia đình riêng sung túc, nhưng một triều đình với vua quan cai trị như triều đình của Tàu thì không hề có. Sử chép ngoài các con, trai gọi là Quan Lang, gái gọi là Mỵ nương, và những người giúp việc cho ông ấy được gọi là Bồ Chính, Hùng vương không có quan viên nào khác. Vì vậy, các lạc hầu, lạc tướng chỉ là do người Tàu bịa đặt theo quan niệm truyền thống với triều đình của họ mà thôi.

(Còn tiếp)

 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email



Những bản tin khác:



Lên đầu trang
Các bản tin mới đăng
Hoàng Bình Trọng: Tác giả thật của hai bài thơ “Nhớ vợ”, “Em tắm” là ai?
Lê Thanh Minh: Albert Likhanov
Đặng Xuân Xuyến: Như giấc liêu trai
Lê Mai: Hình như trong sữa có máu (truyện ngắn)
Châu La Việt: Có những tình yêu như những vì sao...
Nguyễn Hùng Phong: Hành trình qua nước bạn
Thiếu Khanh: Trăng Xa (Thơ song ngữ)
Nguyễn Khôi: Chân dung 99 Nhà văn Việt đương đại - Phần 2
Nguyễn Việt Chiến: Chỉ vì ghen với chồng mà trở thành nhà thơ nổi tiếng
Dương Quốc Việt: Cứ phải nhờ làng phán xét
Tin cùng chủ đề
Lặng lẽ Nguyễn Thành Long
Hoàng Đức Lương - Quan niệm thi học và thơ
Nguyễn Bảo Sinh-nhà thơ dân gian có chất “Bút Tre”
Lần theo mối tình Chí Phèo - Thị Nở
Trí khôn nhà văn ở đâu?
Nhà thơ Việt Phương: “Nhân chi sơ, tính…phức tạp”
CHÂU HỒNG THUỶ: Nếu tôi là Puskin
Một người Việt làm thơ bằng tiếng Nga
Phê bình văn học - Trường hợp Trương Tửu
Lưu Quang Vũ và một quãng đời, một quãng thơ thường bị bỏ quên
 
 
 
Thư viện hình