Tin tức  |  Diễn đàn  |  Thư viện hình  |  Liên hệ
Thứ hai,
27.03.2017 00:55 GMT+7
 
 
Kho bài viết
Tháng Ba 2017
T2T3T4T5T6T7CN
    1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30 31    
 <  > 
Nhận thư điện tử
Email của bạn

Định dạng

Thành viên online
Thành viên: 0
Khách: 2
Số truy cập: 777194
Tin tức > Trang Văn trong nước > Xem nội dung bản tin
Tuổi thơ cháy bỏng
[23.05.2016 02:09]
Xem hình
Tôi sinh ra trong một gia đình nhà lính, trên mảnh đất nghèo của dải đất Miền trung trong những ngày lửa đạn của cuộc chiến tranh chống Mỹ. Tuổi thơ cháy bỏng có cả đắng cay và ngọt ngào chảy qua cuộc đời như một dòng sông xanh mát có bên lở bên bồi…

Phần 1: CHA, MẸ VÀ NHỮNG CÂU CHUYỆN.

Ba tôi là con thứ 3 của một gia đình nghèo, gia giáo của dòng họ Lê Tự tại Kim Long, Hương Bình, Hương Trà, TTH nay là Phường Kim long, Thành phố Huế. Ông cố làm quan ngự y của triều đình nhà Nguyễn và được vua ban đất ở làng Kim long. Em ông cố làm quan lãnh binh trong triều. Dòng họ Lê Tự khi ấy có tên tuổi tại thành phố Huế. Ông nội tôi cũng theo nghề y và bà nội tôi xuất thân là một nông dân. Nghề y từ bao đời chẳng mấy ai giàu bởi làm sao mà kiếm tiền trên bệnh tật và sinh mạng con người.

 Bà nội tôi sinh 8 người con. Bác Triết là bác cả, người được ông cố tôi tập trung đào tạo và dạy dỗ kỹ càng nhưng giữa chừng bỏ dở việc học hành lên rừng theo cách mạng, bị bắt và lưu đày côn đảo sau cũng tập kết ra bắc. Năm 2015, Bác tôi nhẹ nhàng ra đi ở tuổi 88, sau khi nhận huy hiệu 70 năm tuổi Đảng. Bác Ngàn thứ 2 cũng sớm lên rừng theo bộ đội và hy sinh tại Lào khi mới ngoài 20 tuổi. Ba tôi chỉ được học tới lớp 4 rồi được bà nội gửi về quê ngoại, 1 vùng sát chân núi Trường sơn, nơi có câu ca: Bồn trì, Bồn Phổ là tổ việt minh để chăn trâu. 16 tuổi Ba tôi theo bộ đội lên rừng. Cô Tuyến thứ 6 và chú Hùng thứ 7 tập kết ra bắc khi mới 15-16 tuổi.

Sau khi lên rừng, Ba tôi và Bác tôi trở thành những chiến sỹ của tiểu đoàn 101 tiền thân của Trung đoàn Trần Cao Vân, chủ lực của mặt trận Thừa Thiên Huế. Khi đó Trung đoàn trưởng trung đoàn Trần Cao Vân là ông Lê Tự Nhiên ( sau này là uỷ viên thường vụ thành uỷ Sài gòn, uỷ viên thường vụ khu uỷ Trị thiên cùng bác Nguyễn Chí Thanh và hy sinh tại chiến trường) và em ruột: ông Lê Tự Đồng là chính uỷ Trung đoàn ( Người được gọi là vị tướng của chiến trường và sau này là Trung tướng, chính uỷ HVQS cao cấp) là những người chú của Ba tôi. Tuy là chú nhưng cả 2 ông đều nghiêm việc quân. Ba tôi kể: Có 1 lần Ba tôi lên gặp ông Lê Tự Đồng xin tăng cường cán bộ và quân khí cho đơn vị. Ngỡ tưởng tình chú cháu ông sẽ cho. Ông pha 1 ấm nước trà mời Ba tôi uống hỏi han chuyện Bà nội, các chú bác và làng xóm sau đó ông mới nói:
- Nếu ai cũng lên xin như cháu thì Trung đoàn lấy quân số và khí giới ở đâu ra. Tình hình chiến trường đang rất khó khăn, mỗi đơn vị phải chủ động. Cháu là cháu nhưng là 1 người lính của Trung đoàn, chú không thể vì tình riêng mà giúp cháu…

Ba tôi ra về lòng thấy buồn nhưng sau này càng nghĩ càng quý trọng ông. Một vị tướng chiến trường công minh, nghiêm khắc được bộ đội yêu quý.
Bà tôi giữ lại 3 cô chú không cho đi xa nữa. Với những thành tích bất hảo đó, chính quyền Cộng hoà đã liệt Bà là gia đình nguy hiểm và đưa vào chế độ “ săn sóc đặc biệt”. Bà tôi kể: Chính quyền cũ gọi bà lên nhiều lần tra hỏi về con cái và cho là bà ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản. Bà nhẹ nhàng trả lời:
- Các con tôi lớn rồi, chúng đi đâu, làm gì là quyền của chúng tôi làm sao biết được.

Sau cuộc tổng tấn công năm 1968, để tránh hòm tên mũi đạn, chú Danh thứ 4 vào Đà nẵng và trở thành một thợ may có tên tuổi, cô Chay thứ 5 theo chồng về Đà lạt với nghề buôn bán và chú Nam, chú út vào Phù cát mở quán cơm nuôi vợ con. Bà nội tôi không vào nam theo con mà ở lại căn nhà cũ kỹ ở Kim long để hương khói cho dòng tộc bởi ông nội tôi là tộc trưởng 12 đời của Tộc Lê Tự ở Kim long. Ông mất, bà ở một mình và chờ những đứa ở miền bắc về. Bà kể: Đêm đêm bà thao thức mong các con lẻn về thăm. Bà đào sẵn một chiếc hầm bí mật ở gốc mít ngoài vườn để lỡ con về có chỗ mà trốn và chiếc hầm ấy vô tình lại đón những cán bộ cao cấp của mặt trận. Hàng xóm không né tránh bà nhưng những lần thấy gia đình họ sum vầy vang tiếng cười thì bà lại lủi thủi một mình vào trong, thắp những cây hương cầu mong các con bình yên kể cả đứa ngoài Bắc, đứa trong Nam.

Một buổi trưa sau ngày giải phóng Huế 26/3/1975, Nghe hàng xóm xôn xao ông Lê Tự Đồng đã về Huế và làm quan to lắm. Bà dập lửa dù cho nồi cơm đang sôi, cắp chiếc nón rách đi bộ từ Kim Long tới đồn Mang cá. Bộ đội gác rất nhiều và không cho bà vào. Bà từ tốn:
- Tôi là chị của chú Lê Tự Đồng, các chú vào nói có bà Viên Ngỗng ở Kim long xin vào gặp em.
Các chú cảnh vệ nhìn người nông dân quần ống thấp ống cao vẻ mặt hồi hộp, 1 thoáng phân vân rồi gọi điện vào trong báo cáo. Vài phút sau 1 chú vệ binh chạy ra đưa bà vào. Sau nhiều năm xa cách, chị em mừng mừng tủi tủi bên lá cờ nửa xanh nửa đỏ của mặt trận miền nam uy nghiêm.
- Con tôi mô rồi chú, giọng bà run run.
- Chị bình tĩnh để em pha nước cho chị uống đã. Ông dành lấy cái ấm trên tay chú cảnh vệ, tự tay ân cần pha nước cho chị.
- Chị không uống, chú trả lời chị: Con chị răng rồi. Giọng bà càng run hơn.
- Còn sống, tụi hắn còn sống. Ông mỉm cười hiền lành rót nước cho Bà.
- Trước đây em đã hứa với chị đưa tụi hắn đi thì nay em sẽ đưa tụi hắn về với chị. Tụi hắn sắp về rồi chị nạ.

Nước mắt của bà lăn dài hạnh phúc và một ngày dòng nước mắt tức tưởi của người mẹ ùa chảy ào ạt, thấm vào ngực từng đứa con khi chúng từ miền bắc trở về sau ngày giải phóng và nước mắt của những người con cũng ướt đẫm vai người mẹ đã cơ cực đợi chờ. Những tiếng khóc nghẹn ngào của 28 năm xa cách dành cho những đứa trở về và đứa không trở về…

Năm 1958, Ba tôi và Bác tôi cùng 2 người em tập kết ra Bắc. Bác tôi lấy vợ khi đóng quân tại Thanh hoá, Ba tôi lấy vợ Nghệ an, cô Tuyến lấy chồng Bộ đội còn chú Hùng được mẹ tôi giới thiệu 1 người bạn thân cùng ngân hàng, một người con gái đẹp người đẹp nết với bím tóc tết 2 bên bói chả ra. Khi ấy tình yêu của chú tôi đẹp đến nỗi nghỉ tết được 7 ngày, chú đạp xe 3 ngày, 3 đêm từ Hà nội vào Vinh trên những con đường mà đạn bom cày xới ô tô đi chả nổi trong tiếng gầm rú của máy bay và chỉ gặp thím tôi 1 ngày, chú lại lọc cọc đạp xe ngược lại theo ánh pháo sáng trở lại trường Bách khoa cho kịp học.



Tác giả trong buổi giao lưu âm nhạc về những bài hát Nga
do anh dịch sang lời Việt


Mẹ tôi sinh ra trong một gia đình nông dân tại xóm Lượng Xuân, Nghi Trung, Nghi Lộc, Nghệ An. Ông bà ngoại sinh 6 người con 2 người chết lúc nhỏ còn 4 anh em và mẹ tôi là con út. Chị đầu của mẹ tôi là gì Sâm, một nông dân chất phác theo chồng cày cuốc. Người anh thứ 2 của Mẹ là cậu Long một cán bộ thương nghiệp và người anh thứ 3, cậu Tràng, một chủ tịch xã, một bí thư xã nghiêm khắc với công việc, nghiêm khắc với việc dạy con cái. Cho tới giờ hơn 40 năm trôi qua tôi vẫn nhớ những ánh mắt nghiêm khắc của cậu khi chúng tôi làm sai việc gì. Ông ngoại mất khi mẹ tôi mới 2 tuổi, nhà rất nghèo, cơm và khoai không đủ ăn, không được học. 12 tuổi mẹ tôi đi ở và có một câu chuyện cơ cực mẹ kể mà tôi nhớ tới bây giờ. Hôm đó sắp đến tết, 4-5 người ở co ro rét bên ổ rơm và cùng nói mong ước.  Có người nói ước gì được ăn một bữa cơm no với niêu cá trích kho như niêu cá trich của bà chủ. Một người con trai trong nhóm người ở nghe xong thương bạn nói:
- Bay ở đây chờ tau.

Ông ra sau vườn hái 1 nắm lá ổi nhai nát rồi mở niêu cá kho nhổ vào trong, nhổ xuống đất. Sau đó ông nghiêng nồi cá trích được treo trên chiếc gióng lủng lẳng ngang đầu người trên bếp để chống mèo. Ông cầm chiếc vung đất ném xuống nền vỡ tan trong ánh mắt khiếp sợ của những người ở. Rồi ông mở vung nồi cơm nguội lại nhổ nắm lá cây nhai kỹ vào. Thấy tiếng động bà địa chủ lật đật chạy xuống hỏi có việc gì. Khi thấy những bãi xanh lầy nhầy trong nồi cá bà rùng mình rồi bảo đổ nồi cá trích bị mèo mửa đi. Đêm đó những người hầu đón tết bằng nồi cá trích mèo mửa ngon lành. Hạnh phúc của người nghèo đôi khi chỉ là thứ mà người khác bỏ đi.

Sau năm 1945, mẹ tôi thoát ly làm việc tại ngân hàng. Mẹ đã lặn lội tới những vùng đất Vĩnh Linh, Quảng Bình… làm công tác tín dụng và để hoà nhập với dân mẹ tôi đã bập bẹ hút thuốc rê như các Bọ, các mạ. Mọi người nói đùa: Bà có tuổi Đảng gần 70 năm thì tuổi hút thuốc lá cũng gần 70 năm. Bác sỹ nhiều lần khuyên mẹ tôi bỏ thuốc, mẹ chỉ lắc đầu. Có lẽ thuốc lá và những kỷ niệm sâu sắc của tuyến lửa Quảng Bình đã ngấm vào mẹ.

Năm 1958 trong một lần về lại Nghi Trung thăm nhà, mẹ tôi gặp 1 đơn vị bộ đội miền nam đang ở nhờ trong nhà. Ngày ấy mẹ tôi rất xinh xắn và anh bộ đội quê Thừa thiên cứ loanh quanh bên bếp khi mẹ tôi nấu cơm. Mẹ tôi kể: dù bị vụt mấy que cời lửa vào tay nhưng Ba tôi vẫn không rời trận địa. Tính kiên trì đã cho một đám cưới nhà binh giản dị. Sau đám cưới, ba tôi lập tức được điều trở lại Miền Nam. Ngày rời Miền bắc, chiếc xe quân sự chở Ba tôi qua Thành phố Vinh. Cầm tờ báo che cho người ngoài không nhận ra, Ba nén lòng nhìn 2 đứa em ruột cũng mới vượt vĩ tuyến 17 ra với miền bắc đang dựa gốc cây đọc sách ôn thi vào đại học mà không dám gọi. Ba cũng chẳng được thăm mẹ vài phút trước giờ lên đường cho dù xe chỉ chạy 15 phút là đến chỗ mẹ tôi.

Chiếc xe quân sự chở Ba xuyên qua những tuyến đường mà đạn bom nhiều vô kể đến bìa 1 cánh rừng của tuyến lửa Quảng Bình rồi Ba tiếp tục đi bộ nhiều ngày theo dãy Trường sơn để về với Miền nam…và 18 năm sau, khi đất nước được giải phóng Ba mới thật sự trở về sống với gia đình và vợ con. Cũng trong 18 năm đó mẹ tôi đằng đẵng đợi chờ và nuôi con 1 mình và chỉ được gặp Ba tôi 3 lần khi Ba ra Bắc công tác với thời gian rất ngắn và Mẹ tôi sinh được 2 cô em gái. Nước mắt của mẹ đã bao lần rơi xuống khi nhiều năm không có thư Ba, khi tin chiến trường khốc liệt, khi gia đình bạn bè nhận tin chồng, con hy sinh. Người thì nói mẹ tôi thiệt thòi, người thì cho rằng thế vẫn còn may chán, biết bao người chờ chồng còn dài hơn, không 1 lần gặp lại, không con cái rồi 1 ngày nhận được giấy báo tử của chồng thì tóc đã bạc màu…

Con đường mà cha ông đã đi thật hào hùng và cũng thật gian nan, không phải ai cũng dám chọn. Ngày ấy lớp lớp người tự nguyện đi vào chỗ chết chẳng màng danh lợi và lịch sử đã chứng minh: Sức mạnh của ý chí, của tình đoàn kết, của việc đặt lợi ích dân tộc lên trên một cách thiêng liêng đã đưa dân tộc vượt qua đạn bom, vượt qua những vũ khí huỷ diệt và dành thắng lợi.

(Còn tiếp)


Lê Tự Minh
 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email



Những bản tin khác:
Lê Mai: CÚN KHÓC (14.11.2016 17:42)



Lên đầu trang
Các bản tin mới đăng
Một người anh đáng kính
Trần Vân Hạc: Chùm văn xuôi
Mai An Nguyễn Anh Tuấn: Tưởng nhớ Trần Vân Hạc
Nguyễn Trọng Tạo: MÙA THU NƯỚC NGA VÀNG
Lê Thanh Minh: Hoàng hôn nhớ vẫn đây.
Nhạc sĩ Vinh Sử đã thoát nghèo, mua được nhà hơn 1 tỷ nhờ Bolero
Vĩnh biệt nhà văn Nguyễn Quang Thân!
Nguyễn Quang Thân: Vũ điệu của cái bô (truyện ngắn)
Ngô Thanh Hoàn: BẾN SÔNG QUÊ
Nguyễn Ngọc Kiên: Ngày chủ nhật vắng em
Tin cùng chủ đề
Me tây
Thung Lam
Chùm truyện ngắn Mini của Vũ Thanh Hoa
Lần đầu bên nhau ( phần 1)
Nguyễn Huy Hoàng - Tìm con, chăm bạn, làm thơ
Lần đầu bên nhau (phần 3)
I am đàn bà
Truyện ngắn mini - Đỗ Ngọc THạch
Lần đầu bên nhau (phần 2)
Tình qua tin nhắn
 
 
 
Thư viện hình