Tin tức  |  Diễn đàn  |  Thư viện hình  |  Liên hệ
Thứ bảy,
24.06.2017 13:12 GMT+7
 
 
Kho bài viết
Tháng Sáu 2017
T2T3T4T5T6T7CN
      1 2 3 4
5 6 7 8 9 10 11
12 13 14 15 16 17 18
19 20 21 22 23 24 25
26 27 28 29 30    
 <  > 
Nhận thư điện tử
Email của bạn

Định dạng

Thành viên online
Thành viên: 0
Khách: 4
Số truy cập: 810828
Tin tức > Trang Văn người Việt ở các nước khác > Xem nội dung bản tin
Máu anh hùng
[08.05.2016 01:24]
Xem hình

Chiều thu lạnh lẽo chẳng mấy chốc đã toả lan tới dãy núi Đọi. Hạt nắng mỏng manh cuối cùng còn sót lại của vũ trụ lụi tàn rồi tắt hẳn. Như có một phép lạ, vạn vật bỗng dưng biến mất trong màn đêm dày đặc. Mọi sắc mầu rực rỡ huyền ảo vẫn thường được khoe khoắn dưới ánh sáng mặt trời, giờ đều trở nên đặc quánh, chúng hoà vào nhau duy nhất trong một mầu đen bất tận.


 Hai mẹ con Nụ cõng nhau trên chiếc xe “Cửu Long” đã gỉ ngoèn. Ổ bi đã khô dầu từ lâu, cứ rên lên kèn kẹt theo mỗi nhịp quay nặng nhọc của bánh xe. Nhìn xung quanh tịnh không một ánh đèn, Nụ bắt đầu thấy rờn rợn. Tiếng ếch nhái đang ộp oạp râm ran, vội im bặt mỗi khi chúng nghe có tiếng động lan tới. Đến đọan giữa cánh đồng, gần cây đa um tùm thì Nụ như người bị mộng du, cô lao xe vào đêm tối, tưởng như phía trước là một khoảng không thăm thẳm của vực sâu. Cố trấn tĩnh lại, cô nghĩ tới bé Xuân ngồi sau xe. Con bé đã ngủ ngật ngưỡng từ lúc xe bị tuột xích, khi mới đi hết cánh đồng làng Mật. Nếu không mất nhiều thời gian về cái xích bị kẹt trong “gác đờ xen” thì hai mẹ con Nụ giờ này đã ở bên bà ngoại...
    Cuối cùng thì họ cũng về tới nhà. Bà Thảo xách chiếc đèn chai ra mở chốt then ngang chiếc cổng tre. Xót xa khi nhìn thấy đứa cháu ngủ gục sau xe, bà rên rỉ:
  - Công lên việc xuống gì mà về vào giờ này cơ chứ!
  - Xe của con bị hỏng giữa đường.
  - Đoạn nào?
  - Gần cây đa “giời ơi” ạ.
  -  Trời!
    Kêu lên như vậy, bà Thảo chỉ nhìn con gái rồi lắc đầu quầy quậy. Nụ im lặng không dám cãi mẹ. Từ bé, cô đã nghe người làng kể chuyện về cây đa nằm giữa làng Mật và làng Cốc. Ngày xưa, mỗi kì mưa lớn ngập trắng đồng là một kì các đám cướp liều lĩnh xông vào làng bắt lợn. Thằng nào cũng nở nang trần trùng trục, một tay chống sào, một tay hua dao năm. Sau bị trai đinh các làng hợp sức lại truy sát, chúng phát tán đi xa, nhưng thỉnh thoảng vẫn về nằm phục ở cây đa này. Người thiên hạ đi buôn bán, không hiểu biết thông thổ mà qua đây vào ban đêm, thì chỉ kịp kêu một câu cuối cùng: Giời ơi!

    Mấy tháng trước, bà Thảo nhận được thư của Nụ báo rằng, lãnh đạo cơ quan đã kí quyết định cho cô được đi lao động ở Đức, liền sau đó, bà lại nhận được thư của con rể là sĩ quan biên phòng mãi trên biên giới. Chúng nói rằng, không còn cách nào khác, phải gửi cháu Xuân về nhờ bà nuôi...

*   *   *
    Đêm hôm ấy, mưa gió to lắm. Mái rạ đã nát hết, mẹ con Thảo loay hoay tránh dột, không tài nào chợp được mắt. Đến khoảng canh hai, trời lặng dần thì họ nghe có tiếng người gọi cửa:
  - U ơi! Mở cửa cho con với! Thảo ơi! Tao đây, Na đây.
    Đúng là tiếng cái Na, đi những đâu mà giờ mới về. Na bước vào, nước chảy ướt đầm lưng, nhỏ xuống loang thành một vũng nhỏ dưới chân. Chiếc áo tơi làm bằng lá cọ che trước bụng cô động đậy... Đứa bé chỉ ọ oẹ một chút khi nó được chuyền sang tay Thảo, rồi lại vùi vào giấc ngủ. Bà Hương quấn lại cái khăn vấn trên đầu, thắp xong ngọn đèn dầu hoả trên cái bàn thờ tre ọp ẹp, rồi giọng run run:
  - Khổ! Sao lại về lúc gió mưa khuya khuắt thế này. Con bé ăn gì chưa?
  - Xuống tàu, con đã cho cháu ăn rồi. Nó vẫn còn phong bánh quy nữa bà ạ.
    Thảo cúi nhìn đứa bé:
  - Bao lâu rồi?
  - Một năm.
  - Tên là gì?
  - Nụ.
    Nói đoạn, Na cúi xuống bế con lên. Cô áp má mình vào khuôn mặt bụ bẫm đang chìm trong giấc ngủ thần tiên. Một giọt nước mắt rớt trên môi đứa bé. Chuyện trò khá lâu, sau Na quay sang nắm tay hai mẹ con bà Hương.
  - Con chung vốn đi buôn bán xa với người ta, hàng đã cất, không hoãn được, con mang cháu về gửi u và Thảo nuôi giúp. Xong việc con sẽ về...
    Na bước ra hé cánh cửa, cô quan sát bên ngoài một lúc rồi quay lại:
  - Trời đã gần sáng, con phải đi.
    Na cởi ruột tượng lấy ra cái bọc khăn mùi xoa.
  - Con để lại cái này đỡ cho u và Thảo một phần để nuôi cháu.
    Na lại bế con lên, nước mắt chan hoà...
    Trời vẫn còn mịt mờ như sương giăng, đâu đó cuối xóm tiếng chó gắt lên từng cơn. Thảo cùng Na dò dẫm  trên con đường trơn nhầy nhụa của làng Cốc bé nhỏ và nghèo khó. Cố gắng lắm, cô mới ngập ngừng hỏi được Na một câu:
  - Thế còn... bố cái Nụ?
  - Chuyện dài lắm, tao sẽ kể sau cho mày.
    Na dừng lại, xoay mặt Thảo về phía mình, rồi lạc giọng:
  - Thảo! Nếu tao không về...mày hãy là mẹ của bé Nụ nhé.
    Nói đến đây, Na ôm ghì lấy Thảo, rồi nấc lên từng hồi...Biết tính bạn, Thảo không nói gì thêm. Đến giữa làng, cô bảo Na đi vòng theo hướng đầm sen để tránh gặp người của trương tuần. Lòng dạ rối bời, Thảo chỉ biết đứng nhìn theo cho đến khi bóng Na chìm dần vào nền đá xanh mờ của núi Đọi.
    Na đến như một mẩu gió cô đơn, rồi lại thảng thốt bay đi như một con chim lạc loài, không để lại dấu vết.
*   *   *
    Thảo thân với Na ngay từ thời hai đứa còn ngồi dãi thẻ chơi “chắt”. Sau khi bố Na bị Pháp bắt đi tù vì hoạt động cách mạng, thì nó ở với ông nội. Ông nội của Na là người gốc làng Cốc. Từ bé, ông đã theo thuyền của cha ra tận chân vực núi Đọi để lặn bắt cá, baba dưới các khe đá. Lâu dần thành nghề, ông có thể đi lại dưới nước tới vài phút. Ông nội của Na được địa chủ Thượng Khát thuê trông coi đầm sen và ướp trà để mang ra Hà Nội đổ mối. Ông có bí quyết lấy búp chè non làm “bạch trà” rất độc đáo, trà được rót ra trắng như nước mưa, nhưng nếm vào thì thấy chát lịm đầu lưỡi, nưng nức hương sen. Ông nội là người giỏi võ nổi tiếng trong vùng. Lúc đầu, ông dạy võ cho cả hai đứa, nhưng sau Thảo bỏ tập vì nhát đòn, còn mình Na, nó theo ông đến tận ngày bố nó về. Thường thì sáng nào ông nội cũng bắt nó đi quyền, nhưng thỉnh thoảng vào những ngày đẹp trời, khi sương vẫn còn đọng tinh khôi trong lá sen, hai đứa được ông cho theo thuyền ra ngoài đầm. Thảo và Nụ nằm dưới lòng thuyền, trên kia ông nội sừng sững in hình trên nền mây thăm thẳm. Phía Đông, vừng dương đã bắt đầu le lói nơi chân trời xa tít. Sau mỗi một nhịp sào, con thuyền lại lướt đi giữa rừng sen với hương thơm ngào ngạt. Với chúng, đây thực sự là cả một thế giới thần tiên!

    Hôm ấy là một buổi sáng như vậy. Mới hái được khoảng chục bông, Thảo bỗng nghe tiếng cái Na reo lên:
  - Ông ơi! Có một bông sen quỳ.
    Thảo nhìn theo tay của Na thì đúng là một bông sen quỳ đã hé nở. Cánh hoa tím ngăn ngắt một mầu. Ngay bên cạnh nó, còn có một cái nụ vừa ngoi lên khỏi mặt đầm. Khuơ một tay sào, ông nội quay mũi thuyền về hướng đó rồi bảo:
  - Sen quỳ nở là may lắm đấy các cháu ạ. Xưa đầm này rất nhiều sen quỳ, nhưng sau khi nước đầm bị thấm máu nhị vị đại vương - tức là Thành hoàng làng ta - sen chết hết. Giờ mới thấy mọc lại.
    Thế rồi hai đứa đắm mình theo câu chuyện ông kể.

    Thời “khai thiên lập địa”, làng Cốc này chỉ có mỗi một nóc rạ. Đó là tư gia của quan võ Đinh Công dưới triều cuối cùng của vua Hùng Vương. Một hôm, trên đường về quê ở bên kia núi Đọi, ông dừng chân nơi này để tá túc qua đêm. Đến canh ba, ông được thần hiện lên báo mộng... Sáng hôm sau, ông cho quân chèo thuyền vào hang Cốc bí mật đợi chờ. Quả nhiên đúng như mộng báo... Bà Tô Nương vốn là con của một lương y trong núi Đọi. Bài thuốc cha bà cần để tri bệnh cứu người, phải có nhuỵ sen quỳ. Bà một mình chèo thuyền chui qua hang Cốc, đến giờ ngọ thì hái được sen về. Nhưng mới tới được gần cửa hang, bỗng nhiên có một con thuồng luồng to như cái nong nổi lên cắn nát thuyền. Trong khi nguy khốn, ông Đinh Công đã dẫn lính xông ra và dùng gươm chém trúng đầu thuồng luồng, nó lặn mất tăm xuống vực sâu ngay dưới chân núi Đọi... Họ trở thành vợ chồng và xin nhà vua cho dừng lại nơi đây làm nơi trú ngụ. Thời gian thấm thoát qua đi, ông bà đã có được hai người con trai trí lực hơn người. Họ thuê nông dân ở các nơi về, cùng hai người con khai khẩn đất hoang, mở mang điền địa. Sau này, vì “đất lành chim đậu”, mọi người đều xin ông bà cho ở lại, vậy nên mới thành làng Cốc bây giờ.

    Năm ấy, dưới triều vua Thục Phán, giặc phương Bắc đem năm mươi vạn tinh binh sang xâm lược nước ta. Vì chúng quá đông và tàn ác, vua truyền lệnh cho các thủ lĩnh địa phương đưa dân vào rừng sâu núi thẳm để bảo toàn lực lượng. Dân quanh vùng chạy giặc, kéo đến chật làng Cốc. Họ chặt tre đan thuyền để vượt qua hang Cốc vào bên trong núi Đọi. Biết tài nghệ và sức vóc của cha con Đinh Công, tướng giặc mang ngọc ngà châu báu tới để dụ hàng. Khi biết không thể lung lạc được ý trí kiên cường của con dân Lạc Việt, chúng bắt đầu điên cuồng cướp bóc, đốt phá. Sau khi đánh tiêu hao binh lực địch trong các làng chiến đấu, hai người con trai của ông Đinh Công được cha phân công chỉ huy các nghĩa sĩ, họ đi trên những chiếc thuyền nhẹ, chặn địch trên đầm sen. Thuyền muốn vào được hang Cốc, bắt buộc phải qua đầm sen dài non một dặm. Hang nhỏ, chỉ lọt vừa một thân thuyền, nên ngoài cửa hang còn rất nhiều thuyền của dân dồn ứ lại. Các nghĩa sĩ phải đánh kìm chân địch, không cho chúng đuổi theo... Đầm rộng mênh mông, thân sen cao ngập đầu người, thuyền nhỏ của ta di chuyển cả bằng sào, thoắt ẩn thoắt hiện. Địch dùng thuyền gỗ to, có mái chèo, vướng thân sen, không thể nào bơi nhanh được. Mỗi khi thuyền ta xuất hiện, là một lần đám lính trên thuyền giặc trúng tên lăn cả xuống đầm. Đánh đến chiều tối thì họ nhìn thấy lửa đốt trên núi Đọi, biết là có hiệu lệnh, hai con trai ông Đinh Công cho các nghĩa sĩ lui dần. Địch thúc quân đuổi theo, hai ông đem theo vài chục nghĩa sĩ đánh vỗ mặt để cản hậu. Trong trận cuối cùng này, họ bị địch bủa lưới vây bốn mặt. Các nghĩa sĩ hi sinh dần, biết không thể mở được đường máu để trở về, quyết không để giặc bắt, hai anh em đã rút dao ngắn bên mình ra đâm cổ tự vẫn. Máu của họ đã chan hoà vào mạch nước quê hương... Sau khi hai ông hoá, trời đất bỗng tối sầm lại, mưa như trút và sấm chớp gào thét suốt ba ngày đêm. Từ đấy trở đi, người ta không còn thấy một bông sen quỳ nào mọc trên đầm này nữa.
    Ông nội ngừng kể, một lúc sau ông bảo:
  - Vậy đấy các cháu ạ, loại sen quỳ này rất lạ, khi đã bị thấm máu người anh hùng, chúng đều lần lượt chết theo.
    Một tay chống sào, một tay gạt những lá sen vướng vào vành nón, ông nội cho con thuyền nhẹ lướt trên mặt đầm không một gợn sóng, nước long lanh in nền trời với những áng mây thẫm hồng. Cái Na vẫn nằm khoanh tròn im lặng, vai áo nâu của nó thấm đầy nước mắt.
    Cuối năm 1946, khi cuộc kháng chiến anh dũng của dân tộc bùng nổ, bố của Na về rồi đưa hai ông cháu đi đâu biệt sứ.
*   *   *
    Bếp Hoà từ bé đã theo người làng đi làm thuê cho các quán ăn ngoài Hà Nội. Sau, anh về nấu cho hàng phở “Thìn” trong thị trấn Vân Phù. Nhà hàng này nằm ở phía bên kia đường, cách không xa cổng chính doanh trại của binh đoàn lê dương Pháp. Người phụ việc cho bếp Hoà là Alan. Alan có dáng người nhỏ bé, nước da đen giòn và  đôi mắt thì rực sáng. Anh chỉ được cấp trên cho biết, Alan là người của đội biệt phái đặc khu. Cô đã được huấn luyện nghiệp vụ tình báo và rất giỏi tiếng Pháp, tiếng Trung. Alan đã có chồng là trung sĩ nhất Bruno Pfeil - hàng binh người Đức - hiện anh ta đang công tác trong ban địch vận của đặc khu. Họ đã có với nhau một đứa con... Với người ngoài, Alan là một cô bé mồ côi cha mẹ từ nhỏ, bị mẹ mìn bán xuống Hải Phòng làm con nuôi cho một gia đình người Hoa làm nghề bốc thuốc. Sau đó gia đình cha nuôi đem cô về Trung Quốc. Đến năm 1949 gia đình li tán, cô đã tìm đường trở về việt Nam và làm con “sen” trong một gia đình người Hoa có hiệu thuốc Bắc ở Hà Nội... Do mấy lần về Hà Nội cắt thuốc giang mai giúp mật thám Hắc Hổ, bếp Hoà đã quen biết và xin cho cô về phụ việc ở đây. Hắc Hổ là khách quen của nhà hàng, hắn là người của “Ty công an” được biệt phái về đây để bảo vệ vòng ngoài cho doanh trại quân đội Pháp. Y là nhân vật chính, chuyên theo dõi những người “A na mit” sống trong thị trấn này. Làm quen với Hắc Hổ là một trong những nhiệm vụ của bếp Hoà.

    Mật thám Hắc Hổ là kẻ lạnh lùng. Dáng người cao lớn, da đen chùi chũi, võ nghệ siêu đẳng. Đó là tất cả những gì mà người xung quanh biết về y. Người ta cũng không biết được tên thật, gọi  là Hắc Hổ vì phía trên huyệt trấn thuỷ, y xăm hình một con cọp bằng mực Tàu. Thỉnh thoảng người ta lại thấy Hắc Hổ giắt khẩu poọc hoọc dài ngoẵng trước bụng, phanh ngực đi lại giữa đám lính nguỵ gác trứơc cổng doanh trại lê dương - đó là những hôm bọn sĩ quan Pháp từ các nơi tụ tập về trung tâm cứ điểm để nghỉ cuối tuần - Hắc Hổ là đảng viên Quốc dân đảng từ khi còn ở Trung Quốc và đến năm 1945, y đã theo chân sư đoàn Vân Nam của tướng Lư Hán trở về Việt Nam.

    Alan thường phải đi chợ vào buổi sớm để mua thêm đồ nấu cho bếp. Cô sẽ tìm cách đến chỗ hẹn để nhận chỉ thị của đặc khu: Có lần là một câu nói thầm bên tai khi cô đang mặc cả mua bán; có lần lại là một cuốn “Tuần báo đàn bà”, giá bán cho một năm là 5$00. Cũng có lần chỉ là vỏ bao thuốc Cotab loại 20 điếu, đã bị vò nát ném dưới chân cột điện... Họ có nhiệm vụ trinh sát cứ điểm để lên kế hoạch tấn công “câu lạc bộ sĩ quan”. Khu nhà một tầng của câu lạc bộ này nằm ngay phí trước lối vào sở chỉ huy binh đoàn lê dương. Tối thứ bảy hàng tuần, bọn sĩ quan Pháp ở các nơi về tụ bạ hò hét, nhẩy đầm tới tận gần sáng. Khu này, ngày cũng như đêm, có một tiểu đội lính lê dương bảo vệ. Trước lối vào luôn có một xe lội nước M-8 và một xe bọc sắt Half-trucks án ngữ. Những người Việt làm công việc tạp dịch và ngay cả binh lính nguỵ, cũng chỉ được giới hạn ở phạm vi bên ngoài.
    Cuối cùng, phương án tác chiến đã được đặc khu phê duyệt.
    Trước trận đánh ba ngày, Alan xin tổ chức cho về với con một đêm...
    Chiếc xe Jeep lượn một đường rồi phanh gấp trước vọng gác. Tên lính nguỵ đứng ưỡn ngực giơ tay chào viên sĩ quan Pháp ngồi trên xe rồi xin kiểm tra giấy tờ.   Không có gì khả nghi, chiếc barie mầu trắng, sơn đỏ được nâng lên cho xe qua. Bruno thở phào nhẹ nhõm, pha đóng giả các sĩ quan tình báo Pháp thật hoàn chỉnh - hai chiến sĩ biệt đội đặc khu trong bộ đồ lính nguỵ, giày “xăng đá”, mũ phớt và mùi nước hoa đắt tiền thoang thoảng. Chiếc cặp da trong tay Bruno đựng cả năm cân thuốc nổ, nó đã được các chiến sĩ công binh xưởng ở Hoà Bình gắn hai kíp hẹn giờ bằng axit.

    Sau khi kiểm tra lại giấy tờ một lần nữa, tên lính lê dương hướng dẫn nhóm “tình báo” đưa xe vào bãi đậu. Gần đến giờ hành động, họ cho kíp hẹn nổ vào lúc 20 giờ. Một chiến sĩ đi theo bảo vệ và hỗ trợ Bruno. Nếu bị lộ, họ sẽ chuyển sang phương án  đánh nhanh và bên ngoài Alan sẽ chỉ huy biệt đội tấn công vọng gác...Đúng như kế hoạch, Bruno đặt được khối bộc phá dưới chân cửa sổ hông câu lạc bộ. Họ lên xe thoát ra ngoài. Ra đến chân đê ngoài thị trấn thì đồng hồ chỉ đã quá 20 giờ, không nghe thấy tiếng nổ. Chỉ huy quyết định cho xe quay lại, nhóm “tình báo” chấp nhận hi sinh vào kiểm tra lại khối bộc phá. Nhưng họ vừa vào được bên trong vọng gác một đoạn thì bộc phá bỗng phát nổ. Còi báo động rú lên. Tiếng súng nổ chát chúa. Đèn pha bật sáng, hai chiếc xe bọc sắt gầm rú lao ra cổng. Chiếc Jeep vừa chạy lùi vừa bắn như vãi đạn vào bốt gác, nó gạt tung barie chắn ngang rồi quay ngoắt đầu, vọt sang bên kia đường. Alan cùng các chiến sĩ biệt đội vừa bắn cản hậu, vừa rút ra hướng bờ sông. Ở đấy đã có thuyền của du kích đợi sẵn.  Bị chiếc M-8 nã đạn xối xả, Bruno không dám mạo hiểm tính mạng của đội, anh cho xe vọt đi... Nhóm của Alan tới đựơc chân đê thì bếp Hoà trúng đạn, máu loang thẫm ống quần nguỵ binh đang mặc. Alan chạy quay lại, họ dìu nhau sang được chân đê bên kia thì xe của địch  ập tới. Một cuộc chiến không cân sức diễn ra ác liệt. Địch khép chặt vòng vây. Tiếng súng của hai chiến sĩ biệt đội thưa dần. Biết đối phương gần hết đạn, quân địch hò hét A la xô ầm ĩ. Máu ra nhiều, bếp Hoà ngất đi trong giây lát, khi tỉnh lại, nắm chặt tay Alan, anh nói trong hơi thở đứt quãng:
   - Chú yếu lắm rồi... không đi được nữa...ở lại cản hậu, cháu rút ra sau... khi nào nghe tiếng lựu đạn, hãy chạy qua bãi trống... vào ruộng ngô!
    Không còn cách nào khác, Alan đưa nốt quả lựu đạn cuối cùng cho chú Hoà rồi lăn mình xuống một hố cát. Sau hai tiếng nổ chói tai, Alan băng mình vào ruộng ngô. Cô vừa nhảy xuống bờ sông thì bất chợt hai chiếc ca nô nổ máy chiếu đèn pha sáng quắc, bọn lính phục sẵn ào ạt xông lên. Vừa kịp quay lại, Alan chợt thấy như có một con dã thú từ trên ruộng ngô nhảy chồm vào mình. Phản ứng cực nhanh, Alan cong người ra sau, đánh miếng ngã ngửa đạp bụng. Bị trúng miếng, tên địch bắn lên cao rồi ngã đập gáy xuống đất, hắn quằn người lại, nằm co như con tôm ôm bộ hạ... Đó là mật thám Hắc Hổ. Lúc này, bọn lính đã vây chặt xung quanh Alan. Hắc Hổ đứng dậy, gạt bọn lính ra, y cố nhịn đau tiến về phía Alan rồi liên tiếp tung đòn. Tránh không kịp, Alan phải công đỡ những ngọn cước dữ dội của Hắc Hổ, hai tay cô tê dại. Cuối cùng bị một cú đánh gót trúng thái dương, cô gục xuống lịm đi...

*   *   *
     Ba ngày liền, Alan bị bọn sĩ quan phòng nhì hỏi cung. Không moi được tin tức gì ở cô, chúng gọi sang ty công an yêu cầu người hỗ trợ. Mật thám Hắc hổ mặt sát khí đằng đằng, y tức điên người khi bị con nhãi quán phở qua mặt làm chuyện tầy trời. Y cùng hai tên đệ tử dở hết những ngón đòn tra tấn đã học được của bọn phòng nhì Pháp cũng như của đám sĩ quan Tưởng Giới Thạch bên Vân Nam, nhưng cũng không moi được một lời nào từ Alan. Mỗi lần đổ nước cho cô tỉnh dậy, chúng chỉ hỏi một câu:
  - Cơ quan chỉ huy Việt minh ở đâu? Vũ khí lấy ở đâu?
    Đổi lại vẫn chỉ là sự im lặng.
    Bẵng đi hai hôm, Alan không bị điệu lên phòng tra tấn nữa, cô được cho tắm rửa, ăn uống tử tế. Đến sáng ngày thứ ba chúng đưa cô vào một căn phòng trang hoàng lịch sự, sực nức nước hoa. Trên chiếc giường trải khăn trắng muốt, chúng bắt đầu cởi quần áo của của cô ra... Biết là chúng sẽ giở trò súc vật với mình, Alan xuống nước. Cô nói với mật thám Hắc Hổ:
   - Tôi sẽ dẫn các ông đi.
   - Ở đâu?
   - Núi Đọi.
    Tin này được Hắc Hổ hoan hỉ báo lại ngay với phòng nhì Pháp. Alan bị đưa sang phòng nhì lấy tiếp lời khai. Khoảng một tiếng sau, Hắc Hổ nhận được lệnh lên đường.

    Alan bị trói tay ngồi giữa tiểu đội lê dương trên chiếc Half-trucks bọc sắt. Cạnh cô là mật thám Hắc Hổ. Theo sau là một chiếc cam nhông đầy lính nguỵ. Qua chân đê, nơi chú bếp Hoà đánh trận cuối cùng đêm ấy, lòng Alan xe lại. Trong cô, những kỉ niệm ấm áp không thể phai mờ lại lần lượt hiện về: Cô hay bị chú Hoà cốc nhẹ lên đầu, mỗi khi quên không ngâm thịt trước khi làm phở; đôi khi Alan đi chợ mua về cho chú túm sắn luộc. Túm sắn gói trong miếng lá chuối tươi và được buộc bằng cọng rơm nếp vàng óng, chú vui như trẻ nhỏ; những lúc nhớ con, Alan ngồi khóc thầm trong xó bếp, chú Hoà lẳng lặng làm hết mọi việc để cô dành trọn tình thương cho đứa nhỏ... Trận cuối cùng ấy, chú đã trở thành bất tử. Những người con như chú Hoà, dân tộc này còn nhiều lắm, chúng mày không thể giết hết được!...

    Trước mắt Alan lại hiện lên hình ảnh Bruno và đứa con bé nhỏ. Hôm nhận nhiệm vụ biệt phái đi trinh sát câu lạc bộ sĩ quan Pháp, trời se lạnh, Bruno quàng cho cô một chiếc khăn voan mỏng. Anh từ biệt người vợ thân yêu bằng một nụ hôn cháy bỏng và lời chúc lên đường bình an. Dáng cao gầy của Bruno với đứa con nhỏ trên tay, đứng trông theo Alan cho tới khi cô đi khuất xuống chân đồi, cứ ám ảnh cô mãi.

     Hôm ấy là một ngày cuối thu đẹp trời, cô giấu dưới đáy làn đựng thức ăn khẩu Browning mà cô vừa nhận được từ đặc khu. Để chuẩn bị cho cuộc đột kích vào ty công an địch, những lần đi chợ, A Lan phải vận chuyển dần vũ khí, để cất giấu dưới căn hầm bí mật. Căn hầm này nằm ngay trong bếp một quán ăn của một cơ sở trong nội thành. Alan về tới gần nhà nhà, thì bất chợt một xe cam nhông lao tới, đổ đầy lính xuống phố, chúng chia nhau bố ráp các ngả. Biết địch tổ chức khám xét bất chợt, Alan đi thật nhanh. Vừa lọt được vào trong quán, cô đã nghe tiếng giày đinh nện rầm rập và tiếng bọn Pháp quát tháo ầm ĩ sau lưng. Alan chạy nhanh xuống bếp, nhìn quanh, không kịp nữa rồi, cô mở vung nồi nước đang sôi rồi thả ngay khẩu súng vào đó. Hai tên lính Pháp ập vào, chúng lục lọi bếp và kho hàng. Tên cao gầy đến bên nồi nước...Y từ từ mở nắp vung, rồi ngó trân trân vào bên trong...Tim Alan đập mạnh, thời gian căng như một sợi chỉ mỏng manh sắp đứt. Giây lát sau, đôi mắt xanh ngước lên nhìn chằm chằm vào A Lan, rồi nắp vung được từ từ đậy lại...
     Sau khi báo cáo lại tình hình với cấp trên, Alan đề nghị được ở lại quán chờ liên lạc với người lính này. Quả nhiên, mấy ngày sau, người lính Pháp đó quay lại quán tìm gặp Alan.
   - Trung sĩ nhất Bruno Pfeil, tiểu đoàn 2, trung đoàn 2 lê dương! Tôi cần gặp người chỉ huy của Việt Minh.
    Viên trung sĩ hạ thấp giọng tự giới thiệu mình và không ngần ngại, đặt thẳng vấn đề. Anh ta đã biết rõ những người kháng chiến ở Đức, họ thường dùng Browning có gắn ống giảm thanh để ám sát bọn sĩ quan SS...

    Kể từ đó, A Lan được phân công là người liên lạc chính với Bruno. Anh ta là người Đức, cùng với ba người khác, họ đã thành lập “tiểu tổ cộng sản” ngay trong lòng đơn vị lê dương. Đã từ lâu, họ âm thầm tìm cách bắt liên lạc với người của Việt Minh và trong lần lục xoát đột xuất hôm ấy, Bruno đã gặp được người của kháng chiến. Sau cuộc gặp với thượng cấp Việt Minh ở Hà Nội, những người lính lê dương cộng sản ấy rất nóng lòng nhận lệnh hành động...

    A Lan và Bruno gặp nhau theo hẹn. Bruno cung cấp cho cô nhiều tài liệu về tổ chức và cách bố phòng của địch. Trong những lần gặp nhau, Bruno đã kể cho A Lan nghe về quê hương của mình: Đó là những đồng lúa đại mạch óng vàng; những đồi thông xanh ngát bạt ngàn và những dòng sông êm đềm xuôi về biển Bắc. Năm 1940, Bruno ra nhập “Đảng xã hội dân chủ Đức”. Sau mấy lần tấn công bằng lựu đạn và súng giảm thanh vào bọn sĩ quan SS, bị bọn phát xít truy lùng, anh cùng các đồng chí của mình phải chạy sang Pháp... Được biết  A Lan không còn người thân thích, phải sống tự lập vất vả, nhưng luôn giữ nhiệt huyết cách mạng, Bruno rất cảm phục và luôn giành cho cô những tình cảm trìu mến nhất...A Lan ngày càng nhận ra tính cách đôn hậu trong cuộc sống và lòng kiên trì phấn đấu cho lí tưởng của Bruno. Cô thầm cảm ơn về sự chăm sóc ân cần của anh đối với mình. Rồi họ yêu nhau từ lúc nào không biết...
    - Xuống!
    Tiếng quát gằn của Hắc Hổ làm Alan giật mình trở về với hiện tại. Cô nhìn quanh và nhận ra mình đang đứng trước đầm sen và xa kia là dáng hình quen thuộc của núi Đọi. Hắc Hổ điệu cô đến trước mặt viên sĩ quan Pháp.
   - Thưa ngài quan ba, theo như con Việt Minh này nói, muốn vào được hang Cốc thì phải vượt qua đầm sen. Xin ngài cho tôi dẫn nó đi trước để mở một lối an toàn!
   - Tốt lắm! Ông nên mang theo lính!
     Chúng đẩy Alan xuống xuồng, nhân lúc địch không để ý, cô nhanh trí làm động tác luồn hai tay bị trói ra phía trước. Tên lính chân tay lóng ngóng, một lúc sau mới quen với cây sào. Càng ra xa bờ, sen mọc càng dầy, thân sen cao ngập đầu người. Chỉ một lúc, chiếc xuồng nhỏ mất hút dưới những tán sen xanh rì. Hắc Hổ đứng trên mũi xuồng, một tay gạt lá sen, một tay đặt vào báng khẩu Poọc hoọc giắt cạp quần. Alan chỉ đường cho tên lính chống xuồng  tới một hố nước. Đó là một hố bom, quả bom này do một chiếc Bê vanh xít thả xuống từ mấy năm trước. Ở đây nước quá sâu, sen không mọc được. Khi xuồng vừa ra đến giữa hố bom, bất ngờ Alan đứng vụt dậy, chỉ cần một động tác đảo chân, con xuồng chao nghiêng hất cả Hắc Hổ và tên lính xuống nước. Tên lính bị sặc, tháo vội khẩu tiểu liên Stel ra khỏi cổ, vũng vẫy kêu la bơi ngược lại. Hắc Hổ đổ cả thân hình to lớn xuống mặt đầm đánh rầm, nước xộc vào mũi khiến hắn sặc sụa. Theo thói quen, hắn đưa tay xuống bụng, nhưng khẩu súng đã bị văng mất. Y vừa ngoi được chỏm đầu lên, chưa kịp thở thì chỉ chờ có vậy, Alan bay từ trên xuồng xuống, hai chân cắt kéo, cô ra đòn kẹp cổ. Hắc Hổ lừng lững như một võ sĩ là vậy, nhưng một khi đã bị xuống nước và rơi vào tình thế này, y chỉ còn biết giãy giụa. Nhờ học được cách cận chiến dưới nước từ bé, Alan nhấn được tên mật thám chìm rất sâu. Cô kẹp chặt cổ Hắc Hổ rồi uấn mình vặn vỏ đỗ không cho y có thời gian chống đỡ. Không gỡ nổi chân Alan, trong cơn tuyệt vọng, Hắc Hổ rút được con dao nhỏ dưới giầy ra, rồi dâm liên tiếp vào đùi Alan. Máu loang đỏ cả một vùng nước. Alan nén đau ghì thật chặt, chờ cho Hắc Hổ nhũn hẳn, rồi mới ngoi lên. Cô đạp chân, bơi tới túm lấy một cụm sen thở mệt nhọc. Ngước mắt nhìn những lá sen đung đưa, như đang che chở cho thân phận nhỏ nhoi của mình, Alan nhớ tới ngày nào đã cùng ông nội dọc ngang đầm sen trên con thuyền nan bé nhỏ. Hương sen toả lan ngào ngạt, cô nhắm mắt lại, tưởng như mình chỉ mới vừa qua một cơn mơ...
    Hai tên lính nguỵ vào làng Cốc tìm tới nhà lí trưởng Tam. Chúng nói với ông lí rằng:
   - Quan lớn đã bắt được đám cướp cây đa “giời ơi”, chiều tối nay sẽ xử tử chúng ở chân núi Đọi. Ông cho mấy đinh trong làng mang xe bò ra để chôn xác bọn cướp.
    Lí trưởng Tam đem theo ba người, họ kéo theo một chiếc xe bò và sau khi đào xong một cái huyệt lớn, họ bị bọn lính xua ra ngoài ngồi chờ. Có ba tên cướp cả thảy! Hồi nãy ông lí còn nghe lỏm được bọn lính kháo nhau: Có một nữ tướng cướp rất trẻ. Ghê quá!... Ba loạt súng nổ đã lâu, chờ mãi tối nhọ mặt người mới thấy xe chở các ông Tây ra. Lúc sau, một viên quan hai An na mít tới bảo ông lí rằng: Bây giờ đến lượt các ông vào làm phận sự! Lí Tam dẫn mấy người kéo xe bò vào. Họ đưa hai xác nam giới lên xe, rồi kéo ra chỗ huyệt mới đào. Hai người này chẳng ai nhận được dạng. Đến khi đưa xác người phụ nữ lên, ông lí giơ đèn chai soi vào giữa mặt. Bỗng, mắt ông trợn lòng trắng, miệng lắp bắp run rẩy:
  - Trời ơi! Con...con Na làng mình!
*   *   *
    Chuyến tàu nhanh tới thành phố Karl Marx khởi hành đúng 7 giờ 30 phút vào sáng thứ bảy. Toa xe sạch sẽ và sang trọng như trong một căn phòng cao cấp. Trên tấm ghế bọc da êm ái, Nụ đưa mắt qua cửa kính mải ngắm những cánh đồng mênh mông, đất đồng đang được cày lật sau vụ gặt tháng bảy. Đàn quạ chen chúc nhau chạy theo chiếc máy cày đỏ chói, chúng miệt mài bới bắt đám sâu bọ đang lẩn chốn dưới lớp đất đen như mun. Nhìn người ta làm đồng, Nụ lại thấy thương cảnh một nắng hai sương của người dân quê mình. Sao họ sướng vậy?

    Trước chuyến bay ba ngày, mẹ đã dẫn Nụ ra mả ông đống bà đống dưới chân núi Đọi để thắp hương xin vận may trước khi đi xa. Nơi đây đã quá quen thuộc với mẹ con cô và dân trong vùng. Lớn lên Nụ nghe được người làng kể lại: Tối hôm trước, ông lí Tam dẫn đám người đi chôn ba kẻ cướp đường bị Tây bắn, sáng hôm sau, dân làng ra xem thì đã thấy mối đùn lên lấp hết mộ. Cho là điềm thiêng, mỗi lần qua đây lên núi kiếm củi, mọi người đều có hòn đá, miếng gạch đặt lên, lâu dần gọi là ông Đống bà Đống. Đã có lần, sau khi khấn xong, Nụ nhìn thấy khuôn mặt mẹ chan hoà nước mắt...
  - Ta xem lại địa chỉ đi!
    Nụ giật mình, cô lấy lá thư của ông Phillip Fischer ra cho chị phiên dịch đọc lại. Ông Fischer là khách du lịch người Đức, trong một lần tình cờ, mẹ cô đã gặp được ông ở Hà Nội. Sau khi nghe được câu chuyện về Bruno Pfeil, do người hướng dẫn viên kể lại, ông hứa sẽ tìm giúp người này khi về Đức. Sau một thời gian dài chờ đợi, cuối cùng mẹ của Nụ cũng nhận được thư chủa ông Fischer, thư ông viết: Ông Bruno Pfeil đã chuyển về quê ở Osnabrueck bên tây Đức sinh sống. Vào năm 1975, ông đã mất sau một cơn đau tim nặng. Hiện ở thành phố Karl Marx, có một người bạn cùng chiến đấu với ông Pfeil trong hàng ngũ Việt Minh năm xưa, đó là ông Peter Zimmermann...

    Vợ chồng ông Zimermann nồng ấm tiếp hai chị em Nụ trong một phòng khách rộng và sang trọng. Phía sau ngôi nhà có một giàn nho và thảm cỏ nhỏ. Phía trước là một vườn hoa đủ mầu sặc sỡ. Ông Zimermann chạc ngoài sáu mươi, khuôn mặt nhiều nếp nhăn khắc khổ, râu cằm được cạo sạch sẽ và mái tóc đã bạc gần hết được chải lật về phía sau gọn ghẽ. Ông hiện là giám đốc một nhà máy may, trong đó đã có một đội lao động Việt Nam sang làm việc từ sau tết âm lịch. Nhờ thường xuyên tiếp súc với đội thợ khách này mà vốn tiếng Việt của ông rất hoàn chỉnh. Như đã được chuẩn bị sẵn, ông lấy trong tập Album ra hai tấm ảnh. Một tấm chụp vào tháng 12 năm 1953, trong ảnh là năm người hàng binh châu Âu, họ đứng vây quanh một vị chỉ huy Việt Minh đang ngồi trước một tấm bản đồ trải rộng. Còn tấm ảnh kia chụp hai người đàn ông đứng bên nhau, ngay trước cưả ngôi nhà này, mặt sau của nó được ghi:

                                  Tặng người đồng chí thân yêu.
                                  Thành phố Karl Marx, mùa xuân năm 1972.
                                  Pfeil


    Chỉ vào người cao gầy hơn, ông Zimermann nói với Nụ:
   - Đây là Bruno Pfeil.
    Nụ oà khóc, cô ôm mặt nức nở trong tiếng gọi:
   - Cha ơi!
    Tiếng gọi vừa rất đơn giản và cũng vừa rất thiêng liêng, tiếng gọi mà đã ba mươi năm nay, cô khát khao mà chưa bao giờ được gọi... Đêm ấy là đêm cuối cùng trước khi sang đây lao động, Nụ mới được mẹ cho biết chuyện, cha cô là Bruno Pfeil - một hàng binh người Đức.
    Bà Zimermann đang làm cơm trong bếp, cởi vội chiếc tạp dề đang đeo, bà chạy lên ôm lấy vai Nụ vỗ nhẹ. Cả ba người phụ nữ cùng khóc...
   - Từ năm 1940, tôi và Bruno đã là đảng viên trẻ của “Đảng xã hội dân chủ Đức”...
     Zimermann ngồi trầm ngâm, bập đến gần nửa điếu thuốc Cabinet, ông mới bắt đầu kể cho Nụ và chị phiên dịch nghe câu chuyện ngày xưa.

   - Chúng tôi kiếm được một khẩu Browning, lắp ống giảm thanh, lên kế hoạch ám sát bọn ác ôn sĩ quan SS. Đến vụ thứ ba thì bị bọn Ghét ta pô lần tìm được ra nơi ở, nên mùa hè năm 1941, chúng tôi buộc phải chạy sang Pháp. Ở Pháp được ít lâu, theo đạo luật của “Đệ tam Cộng hoà” đã ban hành trước đó, chúng tôi - bất kể ai, những người tị nạn Phát xít, những công chức hay là khách du lịch - đều bị bắt vào trại tập chung. Tại đây, người ta nói với chúng tôi rằng: Bọn phát xít Nhật đang cấu kết với băng đảng Việt Minh, chúng âm mưu chiếm toàn bộ Đông Dương. Chúng ta phải giải phóng Đông Dương! Các bạn có hai cách lựa chọn: một là phải trở lại Đức, đi lính cho Hitler; hai là ra nhập các binh đoàn Lê dương sang giải phóng nhân dân châu Á. Điều chớ trêu là khi đó, các binh đoàn Lê dương Pháp cũng đang chiến đấu chống lại quân đội phát xít Đức ở Monte Cassino và trên nhiều mặt trận khác. Vậy là chúng tôi ra nhập đoàn quân ngoại quốc, tôi và Bruno được đưa tới Sidi đầu quân cho trung đoàn lê dương số 5. Chúng tôi đinh ninh rằng, mình đang kiêu hãnh đi trên con đường của tự do và chân lí.

    Cuối năm 1941, con tàu Dupleix chở chúng tôi xuất phát từ cảng Casablanca và khoảng bốn tháng sau thì cập bến Sài Gòn. Thêm ít ngày nữa, chúng tôi chuyển quân bằng tàu hoả ra Bắc và đồn trú ở thị trấn Việt Trì. Việt Nam của các bạn là một sứ xở tuyệt đẹp, nhưng cuộc sống của người dân thì lại hết sức lầm than! Sau khi đặt chân lên mảnh đất này, chúng tôi mới biết rằng, chúng tôi đã bị lừa dối. Cũng như ở Pháp, Thống chế Petein đã kí với phát xít Đức, thì bên này Toàn quyền Decoux cũng lại kí thoả ước đầu hàng với Phát xít Nhật. Ông ta bao biện: Các bạn hãy duy trì Đông Dương cho nước Pháp vĩ đại! Nhưng chúng tôi biết rõ, chẳng có cái gì gọi là “dân chủ chống phát xít” trong đầu mấy ông thực dân già cỗi này...

    Chúng tôi bắt đầu tìm cách chạy sang hàng ngũ Việt Minh. Trong một lần thừa hành công vụ, Bruno đã liên lạc được với người của họ. Đó là một cô gái trẻ tên là Alan. Alan là người duy nhất trực tiếp liên lạc với chúng tôi. Khoảng một năm sau, vì cần người vận động giác ngộ binh lính Pháp, nên cấp trên đã cử Alan dẫn Bruno trốn ra vùng tự do. Tôi và mấy người nữa trong “Tiểu tổ Cộng sản” vẫn phải ở lại để nắm tình hình các binh đoàn lê dương. Bruno được phụ trách ban địch vận và tại đây, họ đã trở thành vợ chồng. Đến cuối năm 1952 đứa con thân yêu của họ ra đời...

    Kể đến đây, ông Zimermann nhìn thẳng vào mắt Nụ, ông như muốn tìm lại trong đó một đôi mắt trong veo của trẻ thơ cách đây ba mươi năm trời. Nụ lại ôm mặt thổn thức, đây là lần đầu tiên cô được nghe kể lại tường tận về chuyện gia đình mình. Vậy Alan là ai và mẹ cô bây giờ là ai? Sau bữa cơm trưa, bà Zimermann làm cà phê bánh ngọt, cả bốn người ra ngồi dưới giàn nho sau nhà. Nắng vàng trải khắp vườn, gió thu heo heo lạnh và những chiếc lá phong đã rắc đỏ ối trên lối đi nhỏ.
- Để phối hợp với mặt trận Điện Biên Phủ, cuối năm 1953, chúng tôi nhận được lệnh hỗ trợ với đội biệt phái của Đặc khu, đánh tiêu diệt địch trong “Câu lạc bộ sĩ quan”. Đến phút cuối cùng tôi mới được biết, Bruno là người trực tiếp đặt bộc phá. Khi tôi ra làm động tác hướng dẫn xe vào, tôi và anh ấy chỉ đưa mắt nhìn nhau, Bruno đã hoá trang khuôn mặt khác hẳn. Trận đánh kết thúc thắng lợi, hơn một nửa số sĩ quan trong câu lạc bộ khi ấy, bị thương vong. Nhưng bên ta hi sinh một và bị bắt một. Người bị bắt chính là Alan. Mấy tuần liền cô ấy bị biệt giam tra khảo.

 Chúng tôi cũng nhận được chỉ thị của cấp trên là tìm phương án cứu Alan, nhưng điều này là không thể, vì phòng nhì giam cô ấy phía trong trung tâm, lính canh phòng rất dày đặc. Một sớm, tôi nhận được lệnh hành quân chiến đấu. Viên quan ba nói rằng: Con bé bị bắt đã khai báo cơ sở hoạt động bí mật của Việt Minh và nhiệm vụ của chúng ta là kiểm tra tính xác thực của lời khai này... Lên xe, tôi nhìn thấy Alan bị trói tay, ngồi cạnh cô là một nhân viên mật vụ người Việt. Xe chúng tôi chạy về hướng Nam, dọc theo đường sắt khoảng chừng hai mươi cây số thì rẽ vào đường liên huyện, sau đó cứ nhằm hướng núi mà đi tới. Đoàn xe dừng lại bên một đầm sen rộng, sen mọc theo một con suối chạy hun hút giữa hai triền núi. Lúc đầu, các sĩ quan Pháp nói với nhau, họ có ý nghi ngại rơi vào một cái bẫy nào đó. Nhưng sau khi viên mật vụ người Việt đề nghị cho dẫn Alan đi trước, để tìm một hành lang an toàn, thì viên quan ba đồng ý. Ba người xuống một chiếc xuồng đổ bộ loại nhỏ và họ mất hút trong rừng lá sen bạt ngàn. Một lúc sau, chúng tôi nghe thấy tiếng động nước và tiếng la hét của tên lính đi theo xuồng. Toán ứng cứu tới nơi thì viên mật vụ người Việt đã chết và Alan gần như kiệt sức vì máu ra rất nhiều. Họ đưa Alan vào trong chiếc lều bạt dã chiến để bác sĩ quân y chăm sóc vết thương, sau đó cô ấy được uống sữa. Lúc ấy các sĩ quan Pháp hầu như không để ý đến Alan nữa, họ bàn bạc với nhau gì đó rồi quây lại bên máy bộ đàm. Đến chiều thì một xe Jeep chở đến hai người du kích, họ đã bị bắt trong trận càn trước đó hơn một tháng. Chúng tôi được lệnh dẫn giải ba người vào sát chân núi, tại đây, tôi rất bất ngờ và vô cùng đau xót, khi nghe thấy viên quan ba ra lệnh: Bắn hết!

    Trở về doanh trại, tôi đã thức suốt đêm hôm đó để nghĩ về cái chết của những người kháng chiến. Sang ngày thứ ba, sau khi đã chuẩn bị kĩ kế hoạch, bốn anh em chúng tôi trong chi bộ cộng sản, đã trở về với chính nghĩa...
    Ông Zimermann lại châm một điếu Cabinet nữa. Ông ngỏ ý xin lỗi là đã làm ảnh hưởng tới khách vì khói  thuốc. Nhưng ông bảo: Hôm nay là một ngày đặc biệt, một ngày khiến ông phải suy nghĩ rất nhiều.

   - Một thời gian sau, tôi đến cục địch vận để tìm đến Bruno, người ta bảo rằng, anh ấy tham gia vào phái đoàn quân sự và đã sang Trung Quốc... Sau này gặp lại Bruno ở Berlin, tôi được anh ấy kể lại rằng, ở Trung Quốc, anh bị sốt rét tưởng chết. Người ta phải chuyển anh lên bệnh viện Bắc Kinh và khi có chuyến xe lửa đưa hàng binh Đức hồi hương, người ta quyết định cho anh ấy trở về. Bruno đã vô cùng đau đớn khi nghe tôi kể về cái chết vĩ đại của Alan và anh cũng chỉ biết được rằng, trước khi vào trận đánh cuối cùng, Alan đã đem con tới một nơi nào đó, nhờ người nuôi nấng...
    Nụ khóc lặng lẽ! Mọi người im lặng để Nụ khóc trong lặng lẽ...
    Nắng chiều đã nhạt. Trên kia, gió cuối thu vẫn thổi dào dạt qua ngọn cây, nó cố bứt đi những chiếc lá cuối cùng đang run rẩy trên nhánh phong già. Bà Zimermann nắm tay Nụ thật lâu, bà bảo:
   - Đó là một người mẹ vĩ đại! Con hãy tự hào về người mẹ thân yêu của mình.
*   *   *
    Hôm ấy, một sáng tinh sương khi mặt trời vẫn chưa kịp mọc dậy nơi chân trời xa, dưới chân núi Đọi, người ta đã khai quật xong ba ngôi mộ mà mấy mươi năm qua bị người đời lãng quên. Đội tiêu binh danh dự với quân phục trắng, nghiêm trang dẫn đầu đoàn người đưa ba linh cữu phủ Quốc kì về nghĩa trang liệt sĩ. Hôm nay, những người con trung kiên của Tổ quốc mới chính thức được trở về với đất mẹ, trở về trong lòng dân tộc. Đi sau Quốc kì là Nhân dân. Đó là lớp người quen sống lầm than và đã phải chịu bao cảnh đoạ đầy trong những tháng năm mất nước. Họ chỉ có đôi chân trần nứt nẻ đi trên con đường cách mạng. Nhưng bên trong những con người đang bước đi im lặng đó, kẻ thù không thể biết được rằng, đang cháy rực một trái tim, đang tiềm tàng một sức mạnh vô biên của lòng yêu nước thiết tha. Lòng yêu nước đó đã hun đúc họ trở thành một dòng thép chảy suốt ngàn năm lịch sử và kẻ thù không bao giờ có thể phá vỡ nổi. Người nằm dưới lá Quốc kì kia, chính là Nhân dân...

    Khi mặt trời vượt được qua đỉnh núi Đọi, thì mẹ con Nụ cũng dẫn hai ông bà Zimermann tới bên đầm sen. Người phụ nữ Đức đôn hậu nói rằng, bà đã được thưởng thức trà sen Việt Nam và đó là một hương vị tuyệt vời. Bà rất hạnh phúc được nhìn tận mắt một vùng trời nước của sen và hơn thế nữa, lại là nơi diễn ra trận đánh oanh liệt của người nữ anh hùng mà chồng bà và đồng đội của ông hằng ngưỡng mộ. Dưới đầm, những lá sen còn đọng sương mai sáng lấp lánh như muôn ngàn viên ngọc, hương sen ngan ngát toả lan sang những cánh đồng đất ải. Gió thu lay động một rừng lá xanh, chúng làm bà Thảo tưởng như thấy con thuyền nan năm xưa đang nhẹ lướt. Thời gian chưa phôi phai, mới đấy thôi mà đã làm ta phải đổi cả một đời người... Bất chợt, bà nghe tiếng Nụ gọi:
   - Mẹ ơi! Có một bông sen quỳ.
     Bông sen có lẽ mới nở từ lúc mặt trời lên, những cánh hoa tím biếc khẽ rung rinh hé mở. Nép dưới cánh hoa là một cái nụ, nó cố vươn lên khỏi mặt đầm để đón những tia nắng vàng lung linh. Nước đầm sen trong vắt, in nền trời thu thăm thẳm với những áng mây trắng ngần, tơi xốp, bồng bềnh, bồng bềnh trôi mãi... trôi mãi... về nơi chân trời xa tít.


                                                              Halle/S. 15.4.2016, mùa xuân Bính Thân.
                                                                   
   

   
   




   


   
   
   

    

   




Nguyễn Công Tiến.
 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email



Những bản tin khác:
Quang "còm" (25.01.2016 14:59)
Cảm hoài (24.07.2015 04:21)
Như cánh chim câu (19.12.2014 01:23)
Người xưa trở lại (16.12.2014 02:29)
Người xưa trở lại (10.07.2014 00:28)



Lên đầu trang
Các bản tin mới đăng
Ông Phạm Xuân Nguyên từ chức: Nỗi niềm kẻ ở, người đi
Đàn Ca Tài Tử Nam Bộ, Hóa thân từ Nhã Nhạc Cung Đình Huế và là cấu trúc nghệ thuật sân khấu Cải Lương.…
Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội tuyên bố từ chức, xin ra khỏi Hội
Thơ Minh Đức Hoài Trinh (1930-2017)- Hoa Kỳ
Vĩnh biệt Nhà thơ Minh Đức Hoài Trinh*
Tại sao thần Vệ Nữ có ngón chân trỏ dài hơn ngón chân cái?
Lê Mai: HOA TRẠNG NGUYÊN
Chuyện kể của kẻ “lêu lổng” nhất Liên bang Xô viết
Chùm thơ Yên Hồ Trần Quốc Thường
Đinh Ngọc Diệp: Chùm thơ thứ Nhất
Tin cùng chủ đề
NHÀ VĂN NỮ LỆ HẰNG - VIỆT KIỀU ÚC: Viết rất là khổ cực!
VĂN HỌC VIỆT NAM HẢI NGOẠI
Mùa thu vàng
Anh hoa phát tiết ra ngoài - Trần Thị Bông Giấy (Hoa Kỳ)
Vĩnh biệt Võ Thị Thu Trang
Quyên
Gặp các nhà văn Mỹ ở hải ngoại
Phạm Tiến Duật đây là một con đường
TS Thái Kim Lan và tủ sách Tuyển tập văn học Đức - Việt
THĂM TRƯỜNG M. GORKI
 
 
 
Thư viện hình