Tin tức  |  Diễn đàn  |  Thư viện hình  |  Liên hệ
Chủ nhật,
28.05.2017 10:43 GMT+7
 
 
Kho bài viết
Tháng Năm 2017
T2T3T4T5T6T7CN
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30 31        
 <  > 
Nhận thư điện tử
Email của bạn

Định dạng

Thành viên online
Thành viên: 0
Khách: 3
Số truy cập: 798665
Tin tức > Trang Văn trong nước > Xem nội dung bản tin
Nguyễn Hiền Lương: Người về sau cuộc chiến (truyện ngắn)
[23.03.2016 19:32]
Xem hình
Vài nét về tác giả Nguyễn Hiền Lương: Bút danh Hiền Lương, Lâm Nguyễn. Sau khi phục vụ trong quân đội (1972- 1977) về học khoa Ngữ văn ĐHSP. Thạc sỹ , công tác tại Trường Cao đẳng Sư phạm Yên Bái (1981 2010), Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp VHNT Yên Bái, Phó Tổng biên tập tạp chi Văn nghệ Yên Bái, Hội viên Hội VHNT các DTTS Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam. Làm thơ, viết truyện ngắn và tiểu thuyết. Đạt nhiều giải thưởng của TW và địa phương. NBĐ xin giới thiệu Truyện ngắn Người về sau cuộc chiến trong Tập truyện ngắn cùng tên của tác giả được tặng Giải C (không có Giải A) của Hội VHNT các DTTSVN 20015

Người về sau cuộc chiến

Năm 1970, tôi và Hảo cùng tiểu đội tân binh, đóng quân ở Thái Nguyên. Hết kỳ huấn luyện chúng tôi đều vào chiến đấu ở chiến trường B, nhưng mỗi đứa một đơn vị và bặt tin nhau từ đấy. Chiến tranh kết thúc, tôi về học nốt năm cuối Đại học Sư phạm. Tốt nghiệp tôi được giữ lại làm cán bộ giảng dạy, công việc bận mải nên cũng ít gặp lại anh em đơn vị cũ. Đến năm 1980, tôi đưa sinh viên đi thực tập, lúc xuống xóm liên hệ nhà dân cho sinh viên ở nhờ, tình cờ gặp lại Hảo. Nhà Hảo rộng rãi, nhưng trông tiện nghi, đồ đạc có vẻ như là căn hộ độc thân. Sao thế nhỉ? Tôi nhớ trước khi đi B, Hảo được đơn vị cho nghỉ phép bảy ngày để về quê cưới vợ rồi cơ mà? Hảo là con một, bố mất sớm, mẹ anh muốn có dâu, có cháu để nhà cửa đỡ cô quạnh lúc anh đi xa.

Tiểu đội tôi hồi ấy chỉ mình Hảo là đã có người yêu, anh em còn lại đều i tờ về khoản ấy cả. Thư Mai - người yêu Hảo - gửi lên, chúng tôi tranh nhau đọc, để xem tình yêu nó thế nào. Nhìn ảnh mà chấm thì vợ sắp cưới của Hảo đạt điểm ưu, không phải ưu tiên tí nào. Hảo kể, hai đứa yêu nhau khi vừa hết tuổi quàng khăn đỏ, tuy chưa tổ chức đám cưới nhưng mẹ anh đã coi Mai là con dâu rồi.

Tôi vẫn nhớ, khi ấy cả tiểu đội gom lại đủ tiền mua được một chiếc chậu men Trung Quốc có in hình một cháu trai rất bụ bẫm làm tặng phẩm đám cưới. Hảo đã hứa khi trả phép sẽ đưa vợ lên chơi và khao cả tiểu đội một bữa đúng lệ làng Chùa. Tôi không may mắn được dự bữa khao ấy. Hảo đi phép được hai ngày, tôi được điều động sang tiểu đoàn khác và vào chiến trường trước anh.

Tôi gợi lại kỷ niệm ấy để thăm dò:

- Ông còn nợ tôi bữa khao đấy nhé, lãi suất mười năm chắc tiệc to lắm?

Hảo đang vui bỗng ỉu xìu, mặt thẫn thờ. Dấu hiệu ấy cộng với sự trống vắng của căn nhà cho tôi biết mình đã vô tâm. Có thể Mai đã không còn là vợ của Hảo. Trong chiến tranh có phải ai cũng chung thuỷ đợi chờ đến ngày toàn thắng đâu. Tôi biết có nhiều chuyện buồn với người lính trở về sau cuộc chiến. Vài phút sau, Hảo mới ngước nhìn tôi và nói, giọng trầm hẳn lại:

- Thì cứ ở đây với tớ, sẽ có rượu, có tiệc, nhưng không phải là khao đám cưới. Đã cưới xin gì đâu!

Dù đã linh cảm, tôi vẫn sững sờ khi nghe Hảo nói vậy. Tôi muốn biết ngay đầu đuôi câu chuyện. Nhưng Hảo bảo chuyện dài lắm, phải kể một đêm mới hết, bây giờ giết gà, làm cơm, uống rượu cái đã. Đêm ấy chúng tôi đã thức trọn, vừa rượu vừa chuyện, mỏi lưng thì ngả tạm xuống chiếu rồi lại rượu, lại chuyện. Chuyện mười năm dồn lại trong một đêm, nghe xong không biết nên coi là hư hay thực. Sáng ra nhìn rõ mặt nhau mới đinh ninh đó là chuyện thật. Tôi ôm Hảo mà mắng:

- Mày cũng gàn bỏ mẹ, cứ thế mãi à?

Mắng mà thương, mà xót xa, mà đau cho vết thương lòng của bạn, thà cứ mất đi một phần cơ thể có khi còn dễ chịu hơn. Những ngày sau đó tôi đã tìm mọi cách giúp bạn nhưng chưa cải thiện được tình thế hiện tại. Tôi viết chuyện của Hảo lên đây để mọi người cùng biết, may chăng ai đó có thể giúp được bạn tôi.

Đúng là lần về phép ấy, gia đình đã làm lễ cưới cho Hảo với Mai. Tuy là đám cưới thời chiến, nhưng chú rể sắp đi B, nên trang trọng lắm. Lúc đón dâu, nhà trai đã xin dâng cơi trầu nhưng nhà gái cứ nấn ná bảo đợi ông chú ruột cô dâu nhà ở huyện bên hẹn sang đưa cháu về nhà chồng và nhận mặt cháu rể. Khi ông chú tới, Mai dẫn Hảo đến giới thiệu với chú. Kỳ quá, chú vợ nhìn cháu rể mà mắt cứ tròn xoe như nhìn người nhà trời. Mặt ông đanh lại, tái đi, rồi lại đỏ lên. Ông ngỡ mình nhầm. Nhưng sao mà nhầm được, mới cách đó có ba hôm, ông còn chạm chén chúc nó ở đám cưới của nó với con gái ông hàng xóm kia mà? Nó nói sắp đi B nên ông còn cạn hết chén với nó, bắt tay nó hẳn hoi. Đích thị là thằng này, không lẫn vào đâu được, không thể có hai thằng Hảo giống nhau như hai giọt nước được. Hoá ra nó lừa cháu ông, nó cưới hai cô vợ trong một tuần. Không thể để như thế được. Nhưng vì lúc đó có đầy đủ hai họ và quan khách nên ông không thể tống vào mặt cái thằng giời đánh kia mấy quả đấm được. Ông vội kéo Mai ra góc sân, thì thào với cô cháu gái. Rồi mọi người ngơ ngác, sửng sốt khi thấy Mai ngã quỵ xuống đất, ngất lịm đi. Ông chú hoảng quá, cuống cuồng, đỡ cháu gái, mặt hằm hằm nhìn Hảo. Mai được đưa đi cấp cứu trên trạm xá xã, đến tối mới tỉnh, nhưng vừa nhìn thấy Hảo, cô lại ngất đi. Hôm sau cũng vậy, cứ thấy Hảo là Mai lại như người lên cơn động kinh, đến nỗi mọi người cấm không cho Hảo vào nữa. Đám cưới phải hoãn lại, phép thì hết, thời ấy quá phép cũng coi như là đào ngũ. Hảo tuy chưa biết duyên cớ gì khiến Mai đến nông nỗi thế, cũng đành cắn răng trở về đơn vị, rồi đi B ngay. Trước khi đi, anh viết cho Mai một bức rất dài. Ở chiến trường, Hảo cũng tranh thủ mọi lúc rỗi để viết thư cho Mai, nhưng không có một hồi âm nào. Chiến trường ngày một tiến vào sâu và khốc liệt hơn, cuộc đời lính trong chiến tranh nay đây, mai đó, nay còn, mai mất những lá thư thất lạc là chuyện thường. Hảo không thể nào liên lạc được với Mai. Mãi đến cuối năm 1975, Hảo mới được về thăm quê. Dù đã chuẩn bị tinh thần nhưng anh vẫn bàng hoàng không thể tin nổi đó là sự thật khi mẹ đã mất, Mai thì bỏ nhà, đi đâu không biết ngay từ khi Hảo vào chiến trường được vài tháng. Gia đình, bè bạn đã tìm kiếm nhiều nơi từ đó đến giờ mà chưa thấy. Hảo như người mất hồn. Lúc đó Hảo có thể xin đi học hoặc chuyển ngành, nhưng anh đã nhất quyết về quê làm ruộng, để có thời gian đi tìm Mai. Tiền chế độ phục viên, chưa đầy một năm đã rải đường hết. Về sau mỗi năm Hảo chỉ làm một vụ lúa kiếm đủ cái ăn và tiền tàu xe, thời gian còn lại anh lang thang khắp các bến tàu, bến xe...

Nhà văn Nguyễn Hiền Lương

Nghe đến đây tôi sốt ruột quá nên ngắt lời Hảo:

- Nhưng tại sao lại vỡ đám cưới? Tại sao Mai bỏ đi hả?
Hảo rít một hơi thuốc rài, rồi đứng dậy, tay run run hạ tấm huân chương - phần thưởng cho những cuộc chiến đấu của anh- xuống, lật tấm bìa lót mặt sau, lấy ra một tấm ảnh cỡ 4 x 6 đưa cho tôi. Tấm ảnh này màu thuốc đã phai, nhưng vẫn còn nhận ra Hảo đứng bên một cô gái bế một đứa nhỏ chừng vài tháng.

Tôi ngước mắt hỏi. Hảo hất nhẹ mái tóc, lấy cùi tay day day hai bên thái dương mà nói:

- Vì cái đám cưới này của tớ đây. Đúng là ông chú Mai đã dự cái đám cưới này. Ông ấy đã hiểu lầm, Mai cũng hiểu lầm, uất ức đến nỗi ngất đi, rồi bỏ làng ra đi cũng có lẽ vì thế!

Rồi Hảo lại thầm thì kể cho tôi nghe tiếp câu chuyện. Tôi cứ nhìn mãi vào cô gái trong ảnh mà hình dung sự việc theo lời kể của Hảo.

Lúc Hảo xuống xe ở thị xã thì trời đã nhá nhem tối. Anh vội ra ngay bến đò. Bến đò này thưa khách lắm, nhà đò ít khi chở đêm. Trên bến chỉ có một cô gái bế đứa con nhỏ ngồi ủ rũ. Hình như cô ấy có chuyện buồn. Hảo lại gần hỏi:

- Cô gọi đò chưa ?

Cô gái giật mình, ngước mắt lên nhìn Hảo, giọng khản đặc:

- Em gọi mãi, mà chẳng có ai thưa, em chờ đến gần 1 tiếng rồi.

- Chết thật, ông đò này tôi biết, nhà ở mãi trong đê, phải gọi to may ra ông ấy mới nghe tiếng.

Hảo bắc loa tay vừa gọi, vừa hú mãi cũng chẳng ăn thua gì. Chả lẽ ngồi đợi đến sáng, Hảo nóng ruột, lính tráng về phép được bảy ngày để cưới vợ mà phải ngồi đợi đò một đêm thì vô lý đùng đùng. Bơi, bơi thôi. Khúc sông này rộng thật, nhưng anh không lạ, hồi chưa đi bộ đội Hảo đã bơi qua đây mấy lần. Hảo lấy tấm ni lông bọc chặt ba lô làm phao. Thế là ổn rồi, 15 phút sau là đã ở bờ bên. Chuẩn bị xuống bến, Hảo chợt nhớ còn hai mẹ con cô gái, chả nhẽ lại để hai mẹ con cô qua đêm ở đây? Trông chừng cô ta có vẻ mệt mỏi lắm thì phải. Nỡ lòng nào, mình lại là anh bộ đội. Hảo lại gần cô, giọng thân tình:

- Thế này nhé, cô cứ ngồi đợi đây. Tôi bơi sang tìm ông đò rồi quay lại đón cô.

Nửa tiếng sau Hảo quay lại cùng thằng nhỏ con ông đò. Sang sông, họ đi cùng nhau thêm một đoạn đường nữa, đến ngã ba cảng, cách nhà Hảo non chục cây số thì hai người chia tay. Nhìn cô gái lầm lũi bế đứa con nhỏ, túi đồ nặng xệ một bên vai, trời vừa tối vừa rét, mà từ đây đến làng cô cũng còn bảy tám cây số nữa, Hảo thấy ái ngại quá, không đành lòng đi được. Anh quyết định đưa cô gái về đến nhà rồi quay trở lại cũng không sao, chưa đầy hai chục cây số có mùi mẽ gì với lính tráng.

Qua câu chuyện dọc đường, Hảo biết cô gái là công nhân nông trường chè trên Yên Bái, nhận được điện mẹ chết nên về chịu tang. Cô đã phải đi suốt từ trưa hôm kia tới giờ.

- Thế anh ấy đâu, sao không về cùng, để cô đi một mình thế này ? - Hảo hỏi thăm.

Không có tiếng trả lời, cô gái vẫn lầm lũi bước.

- Chắc anh ấy cũng là bộ đội ? - Hảo tỏ vẻ thông cảm và an ủi - Thôi, hoàn cảnh bộ đội thời chiến, các cụ chắc không nỡ trách mắng. Anh ấy bây giờ đóng quân tận đâu?

- Không... không... Thôi... thôi... anh... anh  đừng hỏi em nữa!

Cô gái nói mà như khóc, rồi bỗng oà khóc như không thể kìm lại được nữa. Hảo chưa gặp trường hợp nào như thế, anh bối rối, muốn nói một câu gì đó để chia sẻ hay an ủi nhưng không biết nói thế nào cho phải. Anh không biết được những gì đang làm cho cô gái có thái độ như thế. Còn cô không thể ngờ ngày về quê lại đến nông nỗi này. Còn may là đi ban đêm, đỡ phải gặp người quen, nếu không “tay xách nách mang”, đi một về hai thế này biết ăn nói làm sao? Nếu đêm nay không gặp anh bộ đội này hai mẹ con không biết sẽ thế nào? Ở đời, có người tốt thế mà cũng có lắm kẻ phản phúc đến thế. Nếu em được một người chồng là bộ đội thì còn gì bằng. Nhưng em đâu được như thế anh ơi. Em biết trả lời anh thế nào? Em xấu hổ lắm, nhục lắm.

Cô gái vẫn tức tưởi, bước đi như vô định. Bỗng cô vấp chân phải một hòn đá trên đường, loạng choạng, nếu không có Hảo nhanh tay đỡ thì chắc là cô đã ngã dúi xuống đường. Cú vấp làm cô bật cả móng chân. Hảo phải xé chiếc khăn mùi xoa băng vết thương cho cô.

Có lẽ khi người ta đau xót, tủi cực đến tận cùng bỗng dưng gặp được một người tốt bụng, giúp đỡ tận tình thì người đó dù lạ hay quen cũng trở nên thân thiết và tin tưởng. Nên khi Hảo hỏi chắc cô có điều gì đau khổ lắm phải không thì cô gái đã kể cho Hảo nghe câu chuyện đầy bi kịch của đời mình.

Năm ấy, 17 tuổi, cô gái trẻ trung, xinh xắn của làng Bùi có cái tên rất đẹp: Bích Đào, theo tiếng gọi của Đoàn, xung phong lên xây dựng vùng kinh tế mới Yên Bái. Cô được phân vào đội trồng chè. Đội cô ở một bản người Dao đỏ cách thị trấn huyện tới 40 cây số. Hàng tháng mới có một chuyến xe trâu chở gạo, mắm, muối, dầu thắp đến cho công nhân. Người thị trấn mà các cô gặp thường xuyên là một anh bưu tá. Anh vừa là người mang thư, báo, vừa là người cung ứng đủ loại tạp hoá cho các cô. Anh bưu tá còn trẻ, tính nết sôi nổi, lại nhiệt tình nên mọi người quý mến, coi như người nhà. Có bận anh bỏ cả một ngày chủ nhật để tra nắm dao phát, chêm lại cán cuốc, đàn lại lưỡi xẻng cho các cô. 

Ai, anh cũng gọi là đồng hương tuốt tuột nhưng có vẻ anh chỉ mê mỗi Bích Đào. Thực ra Đào cũng không ưa anh ta lắm, vì anh có cái tật mỗi khi cười, hai đuôi mắt vừa nheo nheo vừa giần giật. Nhưng ở cái nơi “khỉ ho, cò gáy”, đi ra, đi vào chỉ nhìn thấy rừng là rừng với rặt một thứ giống nữ thì chỉ riêng sự có mặt của anh ta đã đủ khuấy động tình cảm rồi, chưa kể đến sự nhiệt tình chăm bẵm nữa. Thế là Đào trao thân, gửi phận cho anh ta. Từ khi được Đào yêu, anh bưu tá biến luôn đội trồng chè thành cái trạm nghỉ của mình. Rừng núi hoang vu cũng biến thành thiên đường với những kẻ đang yêu. Rồi Đào có thai. Khi Đào báo tin này cho người yêu, anh ta tỏ ra rất mừng. Anh bảo với Đào cứ yên tâm, anh sẽ về nhà xin bố mẹ lo việc tổ chức đám cưới, và đón các cụ lên  báo cáo cơ quan. Đào đợi, 1 tuần rồi 2 tuần, đợi đến lúc không còn giấu nổi cái thai, cô lặn lội lên huyện để tìm người yêu. Đến nơi cô mới biết anh bưu tá đã xin chuyển đi một tuyến trạm khác từ lâu, và một sự thật nữa làm cô choáng váng là anh ta đã có vợ. Đào trở về đội, vừa lo sợ vừa đau xót, tủi nhục, bế tắc. Tâm trạng ấy tăng tỷ lệ thuận với độ lớn của cái thai trong bụng. Cô đã muốn giải thoát bằng cái chết. Nhưng chị em phụ nữ trong đội rất nhạy cảm, tinh tường, họ đoán được ý định của Đào và đã kịp không để xảy ra điều đáng tiếc. Sự cưu mang, đùm bọc, thương cảm, chia sẻ của chị em đã cho Đào được làm mẹ.

Nhưng được làm mẹ thì Đào lại mất gia đình. Từ ngày có thai, Đào đã không dám thư từ về nhà. Bố cô là người cực kỳ bảo thủ, ngần ấy năm dưới chế độ mới chưa thay đổi được cái máu gia trưởng độc đoán, phong kiến, nhất là với chuyện con gái chửa hoang. Ông là trưởng một họ lớn ở làng Bùi. Hồi nhỏ, chính Đào đã chứng kiến một lần họp họ, ông khăng khăng bắt một người trong họ phải từ đứa con gái không chồng mà chửa, vì không chỉ bêu xấu một nhà mà làm nhục cả họ. Biết được chuyện tày đình này, ông sẵn sàng coi như không có Đào. Nay nhận được tin mẹ chết, Đào không thể không về, liều mạng mà về. Nỗi đau đột ngột mất mẹ làm cô quên hết mọi chuyện, mọi sự sợ hãi. Gần về đến nhà rồi Đào mới thấy sợ. Không biết sự thể sẽ như thế nào? Nếu mà bố cô lấy lá lót tay, gọt đầu bôi vôi, đuổi cô ra khỏi nhà vào đúng cái ngày này đưa mẹ ra đồng, trước bao nhiêu bà con họ hàng, xóm làng, bạn bè thì đau xót, nhục nhã  làm sao.

Bìa tập truyện ngắn Người về sau cuộc chiến.NXB Thanh Niên

Nghe câu chuyện của Đào, bước chân Hảo nặng dần. Nhìn cảnh ngộ của Đào lúc này anh thấy căm thù cái kẻ cũng gọi là đấng nam nhi, mà đi lừa lọc, để tận hưởng cái khoái cảm nhục dục, đã làm cho người con gái phải bất hạnh đến như thế này. Nghĩ mình cũng là một đấng nam nhi, Hảo cảm thấy xấu hổ, ngượng ngập.

Bỗng dưng cháu bé khóc. Đào ngồi xuống vệ đường cho con bú. Nhưng bầu sữa của người mẹ qua mấy ngày tàu xe vất vả, lại cộng thêm trăm nỗi lo sợ, đau đớn, chưa đủ cho con no bữa đã cạn. Cháu bé lại khóc, Đào cũng oà khóc theo. Khóc như không gì nén được. Tiếng khóc như từng mảnh nhỏ tan vụn của sự đổ vỡ cả tâm hồn và thể xác. Tiếng khóc lẫn cùng tiếng rít réo của từng cơn gió bấc. Con đường trải dài vắng lặng không một bóng người. Hai bên đường những cánh đồng trống trải sau vụ gặt tháng 10, lờ mờ những gốc rạ bạc xám, nhàu nát, rũ rượi. Hảo có cảm giác như đang ở trong một thế giới âm u, hoang tàn. Anh lập cập mở túi cóc lấy phong lương khô, nhưng cháu bé làm sao dùng nổi thứ đó? Đào cũng lắc đầu. Hảo châm lửa hút thuốc, hơi thuốc làm anh tỉnh táo trước tình thế hiện tại. Không thể cứ ngồi đây mãi được. Cho đến bây giờ Hảo vẫn không hiểu tại sao lúc đó lại có ý nghĩ ấy và quyết định nhanh chóng đến như vậy. Hảo nói rành rọt từng câu như ra lệnh, khiến Đào phải nín khóc để nghe:

- Thôi, cô đừng khóc nữa, chỉ mệt thêm thôi, mẹ đã mất, cháu lại đang khát sữa. Tôi sẽ đưa cô về đến tận nhà. Nếu sợ bố quá, tôi sẽ nhận là chồng của cô. Đêm nay ở lại nhà cô, ngày mai tôi lấy lý do sắp đi B chỉ được tranh thủ đưa vợ về viếng mẹ rồi phải lên đơn vị ngay. Chắc bố cô sẽ tin thôi.

- Nhưng ... nhưng thế thì khổ cho anh quá. Mà giấu mãi được sao? - Đào thảng thốt như người hụt hơi.

- Chỉ là đóng kịch thôi mà, giải quyết trước mắt cái đã. Sau này cô cứ nói tôi đã hy sinh là xong. Thôi cứ thế mà làm.

Hảo vừa động viên vừa bàn bạc với Đào cách ăn nói thế nào cho xuôi tai. Đào ngồi yên lặng, chả biết có nghe được câu nào không, khi Hảo kéo dậy, cô mới như người sực tỉnh giấc mộng.

Họ đã về đến gần nhà, nhưng lạ quá, trong nhà yên ắng, không có dấu hiệu gì là nhà có đám tang. Đào tần ngần đứng trước ngõ. Hảo chủ động kéo cô vào sân. Cả nhà sững sờ trước sự xuất hiện thình lình của bộ ba này. Mẹ Đào lao đến, nhưng bà chợt sững lại. Ông bố thì đứng như trời trồng, trân trân nhìn Hảo, trân trân nhìn thằng nhỏ, mạch máu hai thái dương giật giật liên hồi. Ông đã đoán ra sự thể rồi. Mấy đứa em Đào, thấy bố mẹ vậy, không đứa nào dám bén mảng đến bên chị. Nặng nề đến khủng khiếp. Dù đã ý thức được điều đó nhưng Đào vẫn choáng váng, hoa mắt, lưỡi cứng lại không cất nổi lời, cũng không dám khóc. Hảo mạnh dạn bước lên một bước ngắn bình tĩnh, từ tốn thưa:

- Dạ thưa... thưa...! Đây là cháu của ông bà, còn con là ...

- Là quý tử rể à? - Ông ngắt lời Hảo, giọng lạnh lùng, đoạn ngồi phịch xuống chiếc tràng kỷ, bộ đồ gỗ mà ông vốn rất quý, luôn cẩn trọng, nương nhẹ với nó. Ông giằn từng tiếng y thể như từng nhát dao chém giật:

- Nhà này không có con, có cháu kiểu ấy. Không hỏi, không cưới thì vác nhau về làm gì? Làm nhục cả nhà với thiên hạ à? Đi ngay! Cút ngay cho khuất mắt tao!

Nghe bố quát, Đào sợ đến nỗi run lẩy bẩy. Hảo vẫn bình tĩnh, bước lại gần ông thêm chút nữa, tháo ba lô đặt xuống đất, mới từ tốn thưa:

- Dạ thưa, con làm cùng đội với em Đào, chúng con yêu nhau, có cháu, chưa kịp về báo với hai bên gia đình thì con có lệnh nhập ngũ gấp, bổ sung quân số cho đơn vị đang thiếu quân. Nông trường đã tổ chức cho chúng con trước ngày con lên đường. Nay huấn luyện đã xong, trước khi đi B cấp trên mới cho tranh thủ về, ngày mai con phải trở lại đơn vị rồi xin bố mẹ tha thứ ...

Hảo chưa nói hết câu, bà mẹ đã khóc. Thì ra bà đâu có chết. Lâu quá không nhận được thư của Đào lại có tin này, tin nọ, bà nóng ruột đến quên cả kiêng khem, giấu ông, bà bắt em Đào điện lên như vậy. Giờ thì bà quỳ xuống xin ông tha tội cho các con, để con nó còn vui vẻ, yên tâm lên đường đánh giặc. Việc bà xin cho các con, ngay cả cái sự quỳ xuống của bà chẳng thấm vào đâu với thói độc đoán, gia trưởng của ông nhưng hai tiếng "đánh giặc" mà bà nhắc tới khiến ông vừa định mở miệng ra quát đã vội dừng lại. Ông im lặng hồi lâu, hút thuốc, xỉ bã, lại hút, rồi e hèm, mãi sau mới chỉ tay xuống ghế ra hiệu cho Hảo được ngồi. Chỉ đợi có thế, các em Đào ùa ra cả với chị, đứa đón cháu, đứa ôm chị, đứa xách đồ đưa chị vào nhà rồi rối rít đi làm cơm. Bố vợ bắt đầu hỏi chuyện gia cảnh, quê quán, đơn vị của con rể. Không khí gia đình đầm ấm trở lại. Đào như trút được gánh nặng quá sức vào đúng cái lúc sắp sửa gục ngã. Việc khó với cô bây giờ là nhập vai kịch theo cái sự đã rồi. Hảo tuy sắm vai một cách tự nguyện và bản thân anh cũng thương Đào, nhưng tinh tường thì vẫn nhận thấy cả hai đều có vẻ ngượng ngập.  Đêm đó Đào và Hảo đã ý tứ để không lâm vào tình huống khó xử, nhưng mấy cô em đã kín đáo sửa soạn căn phòng hạnh phúc cho họ từ lúc nào. Hảo đến bên giường bố vợ nài nỉ:

- Bố cho con được ngủ với bố một đêm, để mai con còn đi.

- Mai đi, thì anh lại càng phải vào với vợ - Ông dứt khoát, rồi hạ giọng thân tình - Thôi, nghỉ đi con. Bố mẹ còn phải bàn việc ngày mai. Cũng phải làm chục mâm vừa công bố với họ hàng, làng xóm, vừa liên hoan để con đi chiến trường chứ.

Bố vợ đã nói thế thì con rể nào dám trái lời. Hoá ra ông đâu chỉ có bảo thủ, độc đoán, ông còn là người rất tâm lý và lòng thương cảm. Tình thương con đến nỗi biến ông thành người cả tin, bỏ qua mọi lề luật, nghi lễ thông thường. Hảo cảm thấy việc làm của mình có điều gì bất nhẫn với ông. Mặc dù bây giờ Hảo hiểu rằng anh không chỉ giúp Đào, mà còn để cho ông già có được sự thanh thản lúc tuổi cao, sức yếu.

Hảo bước vào buồng, từng bước chân chậm chạp, ngại ngần, day dứt. Có ai vào buồng vợ trong đêm chia tay lại như thế đâu. Anh không ngờ người con gái cùng anh trên giường lần đầu trong đời lại không phải là Mai. Mai ơi? Giờ đây em làm gì? Em đang mong anh lắm phải không? Hình như Mai biết phải không? Phụ nữ hay có linh cảm khác thường lắm. Em nóng ruột, hay nhói buốt ở tim hở Mai. Tha lỗi cho anh nhé, giúp Đào thôi mà. Anh sẽ không làm điều gì để không xứng với em đâu. Bởi anh chỉ có mình em thôi...

Mé trong, Đào cũng không ngủ được, trằn trọc mà không dám cựa mình, một tiếng động nhỏ cũng làm cô giật mình, thảng thốt. Mọi việc đến với cô như một giấc mơ, như phép thần kỳ của cổ tích vậy. Con người mà cô chỉ biết là một anh bộ đội, biết thêm được cái tên của anh, mới được vài tiếng đồng hồ, giờ đang gần, rất gần bên cô. Anh đã cứu giúp cô khỏi một tình thế khó khăn, anh làm cho cả nhà vui vẻ, biến một sự tội lỗi thành điều thương cảm, dù không phải là sự thật chăng nữa thì cũng hơn bao nhiêu cái sự thật khác ở đời. Anh tốt với em quá. Không biết anh đã có vợ chưa? Trẻ lắm, có khi còn chưa có người yêu. Giá mà em gặp anh sớm, nếu mà là vợ thật của anh chắc đời em sẽ khác. Chao ôi! Vậy mà vài tiếng nữa sẽ lại là hai kẻ xa lạ, có thể xa lạ nhau vĩnh viễn. Anh lại sắp sửa đi vào nơi bom đạn, sống chết chỉ cách nhau khoảnh khắc. Nếu mà anh chết? Những người tốt lại hay chết sớm... Một cái gì đó mơ hồ bỗng trỗi dậy trong lòng Đào, khiến toàn thân cô nóng bừng như lên cơn sốt. Nếu không phải đang ở trên giường, chắc là cô sẽ lảo đảo mà ngã mất. Nếu bây giờ anh quay lại, cô sẽ đủ sức kéo anh vào. Nhưng anh vẫn yên lặng, điếu thuốc lại cháy sáng, anh càng yên lặng, sự trỗi dậy của Đào càng lớn, cô đã thấy bủn rủn cả người. Những cảm giác thật khó tả, khó nói. Chao ôi, đêm nay! Đêm nay đừng bao giờ sáng. Chưa bao giờ Đào lại sợ trời sáng ra đến thế.

Bỗng có tiếng gà gáy. Không thể do dự, không thể ngại ngần, chần chừ được nữa. Đào nhỏm  phắc dậy, bế con đặt vào mé trong. Thằng bé thức giấc, oe oe khóc. Đào vội ấp vú vào cái miệng đang kéo nhệch của nó, tiếng mút vú chùn chụt, vô tư. Thằng bé không chịu ngủ lại, nó còn nhoẻn miệng cười. Hai hàng nước mắt lã chã lăn rơi trên đôi gò má nóng hổi của Đào, thấm ướt cả chiếc gối. Một tiếng thở dài nghẹn lại giữa chừng. Hảo ngồi dậy, vặn to thêm ngọn đèn dầu và châm tiếp điếu thuốc khác. Đào khóc, khiến anh cũng không cầm được lòng mình. Hai người lặng lẽ nhìn nhau qua đôi mắt đẫm nước. Nước mắt vừa thổ lộ lại vừa để giấu đi những nỗi niềm từ sâu thẳm đáy lòng.

Những người giúp làm cỗ đã đến. Dưới bếp có tiếng nồi xoong loảng xoảng, tiếng gầu vục nước ì oạp, tiếng lợn kêu, tiếng rít điếu cày phá tan sự tĩnh lặng của đêm. Thế là Hảo và Đào sắp có đám cưới, sự việc không chỉ là chuyện của hai người, chuyện trong nhà nữa rồi. Đã đâm lao thì phải theo lao vậy.

Gần trưa khách đã lục tục đến, toàn bà con họ hàng và làng xóm thân quen. Đào và Hảo gượng nói, gượng cười, đón, chào khách. Sự ngượng ngập trong vai kịch của họ lại khiến mọi người nghĩ là họ ngượng ngập vì có con rồi mới làm đám cưới nên ai cũng là thời chiến này mà có được thằng cu thế này là phúc đức lắm. Ông bố Đào trịnh trọng, hồ hởi dẫn Hảo đến từng mâm giới thiệu mọi người, đầy vẻ tự hào: "Dạ, cháu nó sắp sửa đi B đấy, tranh thủ được có ba ngày, trai thời loạn mà... Các cụ bỏ quá cho". Rồi chén mừng, chén hẹn, rồi chụp ảnh lưu niệm, đủ thủ tục cả. Mãi hai giờ chiều mới vãn khách. Vở kịch sắp đến hồi hạ màn, Hảo tưởng đã đến lúc sắp được giải phóng thì bố Đào bỗng ra lệnh: "Cho cả hai vợ chồng lên đơn vị, vợ ở đó đến khi nào chồng đi B mới được về". Một tình huống ngoài dự kiến, nhưng không thể trái lời bố Đào. Làm thế nào đây? Hai người thì thào rồi quyết định lên bến xe, Đào trở lại nông trường. Sau đó Hảo cũng vội vã quay về nhà. Hảo chạy để bù lại một đêm một ngày trong cái quỹ thời gian ít ỏi mà quý giá vô ngần của mình đã bị mất vì giúp Đào. Vừa đi vừa hình dung lúc cùng Mai trong ngày cưới, hình dung lúc mẹ Hảo đón dâu mới vào buồng. Tiếc là đơn vị chuẩn bị lên đường nên không ai về dự cưới được, việc trang trí, tổ chức, nhờ chi đoàn xã cả thôi. Chúng nó sẽ bắt mình phát biểu cảm tưởng cho mà xem, phải nghĩ đi là vừa, mình nói gì nhỉ? Thế nào cũng có câu: "Vui duyên mới không quên nhiệm vụ". Thằng Lê nó hay nói câu gì nhỉ? À, nhớ rồi: "Hạnh phúc non sông hạnh phúc nhà, thắm tình đất nước thắm tình ta". Sau cùng là cảm ơn rồi chúc sức khoẻ, và hứa quyết tâm giữ chắc tay súng, bảo vệ Tổ Quốc. Miên man với ngày cưới tưởng tượng, Hảo đã về đến làng lúc nào không biết, kia rồi, mái nhà thân thương đã hiện ra, rẽ bên trái, chỗ luỹ tre um tùm là nhà Mai, đi đường đồng chỉ mất mười phút ... Và mọi việc diễn ra suôn sẻ cho đến lúc đón dâu thì xảy ra sự cố như các bạn biết đấy. Thì ra ông chú của Mai cũng được mời dự cưới ở nhà Đào bữa trước. Hảo không nhận ra ông, còn ông thì nhớ rất rõ lúc anh được bố Đào dẫn đến giới thiệu.

Hảo cầm lại tấm ảnh và nói vói tôi:

- Tấm ảnh này ông bố Đào đã để trong khung kính treo giữa nhà. Lúc Mai khoẻ, cô ấy sang bên ông chú để hỏi cho rõ sự việc. Ông chú dẫn Mai sang nhà Đào. Bố Đào còn chỉ vào ảnh để khoe con rể, làm cho Mai càng tin điều đó là sự thật. Mình thành ra vừa là kẻ phản bội vừa là đứa lừa lọc, thì ai còn chịu nổi. Giá mà lúc ấy Mai đi tìm Đào để hỏi thì có lẽ ...

- Ở đời cứ "giá mà..." thì đã không xảy ra chuyện gì. Sao ông không làm rõ sự việc trước lúc lên đơn vị.

- Thì có biết là Mai lại hiểu lầm như thế đâu.Thật là xảy một ly đi một dặm - Hảo thở dài.

- Vậy ông đã tìm Mai ở những đâu? - Tôi sốt ruột hỏi.

- Chỗ mọi người mách, cả chỗ mình linh cảm. Mọi tội lỗi do mình gây ra cả, làm mất cả đời Mai - Hảo nghẹn ngào - Mình vẫn yêu Mai lắm, bây giờ gặp lại, dù Mai có thân tàn ma dại thì mình cũng đưa Mai về bằng được. Nếu Mai đã lấy ai rồi thì mình cũng vơi bớt phần nào đau khổ. Nhưng mình nghĩ Mai không lấy ai cả. Có bận mình mơ thấy Mai lang thang rách rưới đi giữa đồng không mông quạnh, có bận mơ thấy Mai ăn mặc như Tiên bay bổng trên trời, lại có bận mơ thấy Mai bị thương máu chảy ròng ròng, thật chẳng biết thế nào nữa.

- Nếu không tìm thấy Mai thì ông thế nào? - Tôi hỏi, muốn để Hảo tỉnh táo với những sự thật nghiệt ngã.

Anh vẫn như người trong mộng:

 - Đi tìm, tìm đến suốt đời, làm sao có thể vui thú với ai khi Mai đang lang thang đâu đó.

- Còn Đào bây giờ ở đâu? Gia đình cô ấy biết chuyện thật chưa? - Tôi kéo Hảo đến một sự thật khác.

- Cách đây bốn năm Đào dẫn người yêu mới về xin cưới nhưng ông cụ không cho, vì ông đã có con rể là mình. Đào nói rõ sự thật ông cũng không nghe, còn cho là Đào bịa chuyện để bỏ chồng theo trai. Bực quá ông đuổi cả hai. Khi mình sang thăm, biết rõ sự tình, ông lặng câm như tượng. Biết Mai mất tích, ông bỏ cơm gần tuần. Cụ ân hận, dằn vặt cho là nguyên căn ở cụ cả, lắm lúc cứ tha thẩn đi một mình, ai hỏi thì bảo: "Đi tìm con gái tôi, tên là Mai, bác có biết nó ở đâu không". Thỉnh thoảng cụ lại sang thăm mình, cho cả tiền để đi tìm Mai, không nhận thì cụ khóc. Năm ngoái Đào cũng về quê chơi, thằng nhỏ đã đi học rồi. Đào cũng bỏ ra mấy ngày phép để đi dò hỏi tung tích Mai.

- Nếu giả dụ, Mai không còn, ông có định biến vở kịch năm xưa thành sự thật không? - Tôi ngập ngừng hỏi.

- Chưa nghĩ tới chuyện đó, thật đấy. Chả thèm khát gì cả, già rồi còn gì vả lại hình ảnh Mai đã ăn sâu trong đầu mình lắm rồi, làm sao quên được, mà đã không quên được Mai thì sao có hạnh phúc với người khác. - Hảo nói không chút ngập ngừng, tôi tin là anh nói rất thật.

Từ đó đến nay tôi đã tranh thủ đi nhiều nơi, hỏi thăm nhiều người, nhờ cả phương tiện thông tin đại chúng loan tin giúp. Có tin là Mai đã bỏ nhà đi Thanh niên xung phong. Năm ngoái gặp một anh bạn hồi chiến tranh là Binh trạm trưởng thuộc đường dây 559 nói có biết một cô thanh niên xung phong tên là Mai, quê Hải Hưng, bị thương rất nặng vào mặt phải mang ra tuyến ngoài điều trị. Tôi hỏi đơn vị đồng chí thanh niên xung phong ấy, nhưng cựu binh trạm trưởng chỉ còn nhớ hình như D5 hay D8 gì đó. Cũng phải thôi, trong chiến tranh các binh trạm đầy khách ra vào, làm sao mà nhớ được hết đơn vị của họ. Tôi cố tìm những người chỉ huy cũ của các đơn vị thanh niên xung phong để dò hỏi nhưng hiện nay người đã hy sinh, người chuyển ngành hoặc về quê nên tìm được họ cũng khó. Tôi tìm đến một số trạm điều dưỡng thương binh nặng, đã gặp đến bốn cô Mai, nhưng không có ai là Mai của Hảo. Mới đây Hảo lại đi vào Nghĩa trang Trường Sơn, vẫn chưa ra. Nếu ai biết được tung tích Mai xin cho tôi biết, may ra có thể giúp bạn tôi có được sự bình yên trong tâm hồn và một chút hạnh phúc gia đình dù đã rất muộn mằn.


Yên Bái- Văn chấn, mùa Đông 2010    

N.H.L

Các tác phẩm đã xuất bản của Hiền Lương:

 - “Trẻ em là hoa của đất” - Tập truyện ngắn- NXB Văn hoá dân tộc, 1995
 - “Định canh, định cư “ - Tập truyện ngắn- NXB Văn hoá dân tộc, 1995
 - “Phong lan phố”  - Tập thơ - NXB Văn học, 1999
 - “Dải sông Ngân” - Tập thơ - NXB Hội Nhà văn, 2005
 - “Miền rừng thuở ấy” – Tập truyện  ngắn - NXB Hội Nhà văn, 2010
 - “Lung linh Mường Lò” – Tập ký – NXB Hội Nhà văn, 2012
 - Người về sau cuộc chiến, tập truyện ngắn – NXB Thanh niên 2015


 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email



Những bản tin khác:
Lê Mai: CÚN KHÓC (14.11.2016 17:42)
Tuổi thơ cháy bỏng (23.05.2016 02:09)



Lên đầu trang
Các bản tin mới đăng
Hoàng Bình Trọng: Tác giả thật của hai bài thơ “Nhớ vợ”, “Em tắm” là ai?
Lê Thanh Minh: Albert Likhanov
Đặng Xuân Xuyến: Như giấc liêu trai
Lê Mai: Hình như trong sữa có máu (truyện ngắn)
Châu La Việt: Có những tình yêu như những vì sao...
Nguyễn Hùng Phong: Hành trình qua nước bạn
Thiếu Khanh: Trăng Xa (Thơ song ngữ)
Nguyễn Khôi: Chân dung 99 Nhà văn Việt đương đại - Phần 2
Nguyễn Việt Chiến: Chỉ vì ghen với chồng mà trở thành nhà thơ nổi tiếng
Dương Quốc Việt: Cứ phải nhờ làng phán xét
Tin cùng chủ đề
Me tây
Thung Lam
Chùm truyện ngắn Mini của Vũ Thanh Hoa
Lần đầu bên nhau ( phần 1)
Nguyễn Huy Hoàng - Tìm con, chăm bạn, làm thơ
Lần đầu bên nhau (phần 3)
I am đàn bà
Truyện ngắn mini - Đỗ Ngọc THạch
Lần đầu bên nhau (phần 2)
Tình qua tin nhắn
 
 
 
Thư viện hình