Tin tức  |  Diễn đàn  |  Thư viện hình  |  Liên hệ
Thứ hai,
27.03.2017 00:53 GMT+7
 
 
Kho bài viết
Tháng Ba 2017
T2T3T4T5T6T7CN
    1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30 31    
 <  > 
Nhận thư điện tử
Email của bạn

Định dạng

Thành viên online
Thành viên: 0
Khách: 4
Số truy cập: 777194
Tin tức > Nghiên cứu-Phê bình-Chân dung > Xem nội dung bản tin
Trần Nhuận Minh: ĐI TÌM SỰ THẬT - Phần 1
[02.03.2016 15:20]
Sau tập tiểu luận THỜI GIAN LÊN TIẾNG, Nxb Hội Nhà văn 2013, rất được bạn đọc chú ý, đón nhận và hoan nghênh. Lần này nhà thơ Trần Nhuận Minh đang soạn tập mới ĐI TÌM SỰ THẬT để xuất bản. Xin giới thiệu chùm bài rút từ tập thứ 2 này để bạn đọc tham khảo.

Nếu dùng sự gian trá để đánh cược với lịch sử, chúng ta sẽ mất trắng.

TRẦN NHUẬN MINH

CHIẾN THẮNG VÂN ĐỒN VẪN LÀ Ở... VÂN ĐỒN!

Đặt ra điều này có vẻ hơi ... kì cục. Nhưng tiếc thay nó lại là một vấn đề lớn, không ... kì cục một chút nào. Hơn thế nữa nó lại là một vấn đề khoa học rất nghiêm túc và đã đến lúc hi vọng có thể lí giải được rõ ràng rồi.

Trong trận đánh có ý nghĩa chiến lược của Trần Khánh Dư, nhấn chìm đoàn thuyền chở 70 vạn thạch lương của Trương Văn Hổ đầu năm 1288, tạo đà thắng cho trận Bạch Đằng, Đại Việt sử kí toàn thư  ( ĐVSKTT) tập 2, của ta, chỉ ghi là tại Vân Đồn và “chiến thắng Vân Đồn” ( không ghi kèm một địa danh nào) “ bắt được quân lương, khí giới của giặc nhiều không kể xiết”. Trong khi đó, Nguyên sử, quyển 209, ghi là tại “ Đồn Sơn – Lục Thủy Dương” ( Đồn Sơn - biển Lục Thủy)“thuyền mất 11 chiếc, lương chìm 14.300 thạch, lính chết 220 người”. Số thống kê này của Nguyên sử  chắc chắn là thấp hơn rất nhiều so với thực tế. Và Tân Nguyên sử , quyển 182, lại ghi, Trương Văn Hổ “nhận chức Giao Chỉ hải thuyền vạn hộ,đeo hổ phù, chở lương đến Tùng Bách loan ( vịnh Tùng Bách) ”...Và An Nam chí lược, quyển 4,  lại ghi: “ Trương Văn Hổ gặp địch ở cửa An Bang, lương hãm...”. Như vậy, ngay ghi chép của sử gia nhà Nguyên ở 3 quyển cũng có 3 địa danh khác nhau.

Khi ta dịch thì cho rằng: “Đồn Sơn” là Vân Đồn, còn “Lục Thủy Dương” thì là Cưả Lục(?), “Tùng Bách Loan” thì “chắc cũng chỉ vùng Cửa Lục” (?), còn “ cửa An Bang” thì là cửa Quảng Yên (?) ( Theo Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỉ XIII của Hà Văn Tấn – Phạm Thị Tâm – Nxb KHXH, 1968). Chữ “Cửa Lục” thường được dùng và sau này, ta dựa vào Nguyên sử mà gọi là “chiến thắng Vân Đồn – Cửa Lục”. Chữ “Cửa Lục” hiện nay  được hiểu là vùng nước từ Vựng Đâng chảy qua chân cầu Bãi Cháy ra vịnh Hạ Long. Căn cứ vào đó, khoảng vài chục năm trước, “sử gia” của ta viết rằng:  thuyền lương Trương Văn Hổ dạt vào bờ Bãi Cháy, Trần Khánh Dư đánh hỏa công, lửa táp lên cháy hết cả khu rừng ven bờ, nên vùng bãi bờ ấy sau này gọi là Bãi Cháy (?)  Thực ra cái tên Bãi Cháy được nhân dân đặt cho, rất đơn giản. Những người dân chài đánh cá trên Vịnh Hạ Long, đêm đêm nhìn vào bờ thấy cả một giải bờ biển, lửa cháy sáng rực. Ấy là lửa đốt những phiến gỗ xẻ cho cong hợp với dáng thuyền để ghép gỗ vào khung  thuyển, và ở chỗ khác trên bờ biển là lửa đốt  lá thông khô với cỏ ràng ràng để hun thuyền, để thui những con hà bám vào thuyền.  Lửa đốt ván và lửa hun thuyền cháy đỏ cả một giải bãi biển nên gọi là Bãi Cháy. Chỉ có thế thôi.  Lại “bái phục” sự tưởng tượng ( như nhà thơ) của các nhà sử học, khi ghi trận hỏa công của Trần Khánh Dư tại Bãi Cháy năm 1288 vào tất cả các loại sách khoa học lịch sử ( kể cả sách  lịch sử Đảng – chương ghi về truyền thống dân tộc ) rằng  đó là trận đánh hỏa công của Trần Khánh Dư (!).  Từ cách hiểu này, nhiều  năm nay, ta tách chiến thắng của Trần Khánh Dư ra làm hai, nửa đầu ở Vân Đồn, nửa sau, có tính quyết định, lại là ở tại Cửa Lục - Hòn Gai. Và như thế, nếu theo cách hiểu đó - chiến thắng này phải ghi là  Cửa Lục - Hòn Gai (?) mới đúng. Tôi ngờ rằng, chữ Cửa Lục  với hàm ý nước ở  đây do 6 ( lục) con sông suối từ Hoành Bồ - Mông Dương đổ xuống, hoặc cũng có thể là vùng nước xanh – vì không rõ nguyên bản viết chữ “lục” nào - thời ấy (1288)  chắc chưa có tên. Còn một nơi thứ ba là An Bang (Quảng Yên) (?) thì không thấy ai nói đến, chắc thấy nó vô lí quá.

Bất cứ ai  đã đến cầu Bãi Cháy bây giờ, đều có thể nhìn vụng nước Cửa Lục – Hòn Gai, được cho là nơi, cùng với Vân Đồn -  Trần Khánh Dư “đánh chìm đoàn thuyền lương Trương Văn Hổ” (?) vừa hẹp vừa vào sâu trong đất liền, với hai bờ chạy dài như hai cái lưỡi kéo, mỗi chiều dài khoảng 30 km. Như vậy Trương Văn Hổ phải dẫn đoàn thuyền lương nặng nề này đi thêm đoạn đường  biển dài  60 km trong lúc đang bị tấn công. Lại nữa, với vũng nước hẹp và nông, kéo dài ven bờ như thế, không thể gọi là “dương” ( Lục thủy dương) được. Cho nên “lục thủy dương” mà dịch là vụng Cửa Lục – vùng nước từ chân cầu Bãi Cháy bây giờ đổ ra vịnh Hạ Long - là không có sức thuyết phục.Vậy mà nhiều chục năm nay, ta vẫn tin vào khái niệm địa danh ấy để gọi là chiến thắng Vân Đồn – Cửa Lục, có trong lịch sử các cấp và sách giáo khoa ?

Trong sách “Thời gian lên tiếng” ( 2013), tôi đã tỏ ý ngờ vực điều rất quan trọng này, cho rằng,  tên  cướp biển nổi tiếng Trương Văn Hổ, được phong “đại tướng”   không ngờ nghệch gì mà đưa đoàn thuyền lương nặng nề và chậm chạp – vấn đề sống còn của cuộc xâm lăng của Thoát Hoan - không đi đường thẳng từ Mũi Ngọc, qua biển Minh Châu – Quan Lạn vào cửa Bạch Đằng cho ngắn, mà lại đi theo hình chữ V vào vùng gần chân cầu Bãi Cháy bây giờ, rồi lại quay ra qua Tuần Châu ( như diễu binh trong ngày hội) để vào cửa Bạch Đằng, dài thêm gấp nhiều lần đoạn thẳng trên, cả hai vòng vào và ra này đều rất gần bờ, trong khi quân ta -  theo sử ta và sử Nguyên đều ghi giống nhau là ta - đánh ra từ bờ. Và hơn nữa, đoàn thuyền này, theo ĐVSKTT đã  bị chìm ngay ở Vân Đồn rồi, làm sao còn chạy vào đây...

Ngày 12/3/1883, cái tên “Vịnh Hạ Long” mới lần đầu xuất hiện bằng chữ Pháp,  trên báo Le Temps, tại Paris, do thiếu tá hải quân Henri Laurent Rivière viết.  Cái tên Vịnh “con” (tử - Bái Tử Long ) phải ra đời sau tên mẹ là Hạ Long, tức là sau 1883. Do đó tôi nghĩ, 600 năm trước, năm 1288, Vịnh Bái Tử Long  chưa có tên,  sử gia nhà Nguyên ghi “ từ Đồn Sơn đến Lục Thủy Dương”, nghĩa là vẫn trong vùng Vịnh Bái Tử Long bây giờ, và tôi  cho rằng “ Lục Thủy Dương” chính là vùng biển Quan Lạn – Minh Châu khi ấy chưa có tên. Vùng nước này rất rộng, mênh mang như biển lớn, nên các sử gia mới ghi là “dương”. Đoàn thuyền lương giặc đã bị chìm ở đây, sau khi đã bị đánh từ cửa biển sông Mang (Móng Cái). Và như thế, chiến thắng Vân Đồn vẫn chỉ ở ... Vân Đồn như ĐVSKTT đã chép. Còn cách dịch có tính suy diễn như tôi đã nêu trên, dẫn đến cách hiểu cũng có tính suy diễn là “chiến thắng Vân Đồn – Cửa Lục” mà kết thúc ở Cửa Lục – tôi ngờ là không có cơ sở.

Tôi ghi lại ý kiến này, kính trình các bậc cao thâm và các bạn đọc xa gần xem xét, chỉ giáo cho.                                                      

TRẦN KHÁNH DƯ CÓ LẬP CÔNG TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG NGUYÊN LẦN THỨ NHẤT, NĂM 1258 HAY KHÔNG?                                                                                  

Chúng ta đều biết từ thượng cổ đến nay, quân xâm lăng phương Bắc đánh vào Việt Nam, nếu qua đường Quảng Ninh, chỉ qua duy nhất một con đường là đường thủy mà thôi. Không có đường bộ. Cho nên nhà Trần chỉ bố trí một danh tướng thủy là Trần Khánh Dư, đóng đại bản doanh ở Vân Đồn và giao cho trông nom các việc thủy bộ ở vùng biên giới Đông Bắc là đủ. Đại Việt sử kí toàn thư ghi: “Hưng Đạo vương giao hết công việc ở biên thùy cho Vân Đồn phó tướng là Trần Khánh Dư” ( Tập trọn bộ, NXB Thời Đại, 2013, trang 313). Thuở hàn vi,  trước khi được phong Vân Đồn phó tướng, Trần Khánh Dư đã sống nhiều năm ở Chí Linh, Hải Dương hiện nay.
Theo sự tiết chế của Hưng Đạo vương, Trần Nhật Duật chủ cánh quân Tây Bắc, đóng đại bản doanh ở Yên Bái bây giờ (có tài liệu ghi ở Tuyên Quang). Phạm Ngũ Lão con rể  nuôi của Hưng Đạo vương, tướng tiên phong, đóng quân ở Nam ải Chi Lăng, phòng thủ mặt trận chính, chặn giặc đánh vào kinh thành Thăng Long. Và Trần Khánh Dư chủ cánh quân thủy bộ Đông Bắc, phòng thủy tuyến biển vào cửa Bạch Đằng, đóng đại bản doanh ở Vân Đồn – nên ông còn được gọi là Vân Đồn phó tướng). Có lẽ vì vậy chăng, mà nhà sử học lớn là Phan Huy Chú,  xếp danh tướng Trần Khánh Dư chỉ đứng sau 3 người là Trần Hưng Đạo, Trần Nhật Duật và Phạm Ngũ Lão.

Đại Việt Sử kí toàn thư  ghi Trần Khánh Dư mất năm Kỉ Mão ( 1339). Điều này tin được. Theo phép viết sử cũ, chỉ con vua như Trần Quang Khải,  Trần Nhật Duật…  mới ghi năm sinh, còn Trần Khánh Dư, Phạm Ngũ Lão và nhiều danh tướng khác sử chỉ ghi năm mất. Ngay Quốc công Tiết chế Hưng Đạo vương, chiến công lừng lẫy thế, sử cũng chỉ ghi năm mất.

Vậy cuộc kháng chiến chống Nguyên lần thứ nhất, năm 1285,  theo Đại việt sử kí toàn thư ‘‘khi quân Nguyên sang cướp, Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư nhân chỗ sơ hở đánh úp, Thượng hoàng khen là có trí lực, lập làm Thiên tử nghĩa nam” ( con nuôi thượng hoàng Thánh Tông nhà Trần – anh em nuôi với Trần Nhân Tông ), thì  theo tôi, việc thượng hoàng nhận Khánh Dư làm con nuôi là xác thực, còn chiến công năm 1258 của ông thì lại là một điều rất đáng ngờ. Vậy, năm đánh úp giặc Nguyên, 1258,  Khánh Dư bao nhiêu tuổi ? Nếu năm đó 18 tuổi, Khánh Dư làm tướng, thì ông sinh năm 1240, mà mất năm 1339 thì ông thọ 100 tuổi, tính theo âm lịch ( 1240 – 1339).  Điều này, nếu có, Đại Việt sử kí toàn thư không thể bỏ qua, khi đã ghi tuổi thọ của Trần Nhật Duật là 77 tuổi ( âm). Trẻ nhất cũng phải như Trần Quốc Toản,  16 tuổi, thì Khánh Dư sinh năm 1242, mà mất năm 1339 thì ông thọ 98 tuổi ( 1242 – 1339)...  Ngày xưa 70 tuổi đã hiếm lắm. Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách đây chưa xa, năm 1969 trong Di chúc,  đã trích câu thơ Đỗ Phủ “Nhân sinh thất thập cổ lại hi” ( Người thọ 70 xưa nay hiếm) cơ mà... Các tướng thời Trần ( do ốm mà mất) như Trần Liễu thọ 40 tuổi ( 1211- 1251), Trần Quang Khải thọ 53 tuổi ( 1241 – 1294), Trần Quốc Tảng, thọ 61 tuổi ( 1252 – 1313)...vân vân...

Trong tình hình tuổi thọ chung của người Việt ở thời ấy, khó lòng tin được Trần Khánh Dư đã sống đến 97 hay 100 tuổi, trong khi sử ghi vị tướng thọ ( chắc là thọ nhất)  ở thời Trần là Trần Nhật Duật chỉ đến  77 tuổi. Nếu Trần Khánh Dư có tuổi thọ bằng Trần Nhật Duật, thì ông sinh năm 1262, nghĩa là sau khi cuộc kháng chiến lần thứ nhất kết thúc đã được 4 năm. Cho nên cũng khó lòng mà tin được là Trần Khánh Dư đã  lập công  ở cuộc kháng chiến chống Nguyên lần thứ nhất năm 1258. Và nếu không có chiến công đó,  vị thế của Trần Khánh Dư trong lịch sử chống Nguyên Mông vẫn rất to lớn và vững vàng. Do vậy, tôi nêu ý kiến này, để các bậc cao minh xem xét, và lưu ý các nhà viết sử hiện tại, cần phải cân nhắc thận trọng, khi viết các trang sử liên quan đến điều tôi vừa nêu, nhất là trong các loại sách giáo khoa, để đảm bảo tính trung thực lịch sử, bởi chỉ có sự trung thực, mới có độ tin cậy, mới có tác dụng giáo dục đối với mọi thế hệ, nhất là thế hệ trẻ.


Còn nữa


 

(Theo Bản tác giả gửi NBĐ)
Tin liên quan:
Trần Nhuận Minh: Hãy cứu lấy người lớn! (24.12.2013 19:02)
Trần Nhuận Minh: Vấn đề Hồ Xuân Hương đã rõ (20.04.2013 00:13)
Phỏng vấn Trần Nhuận Minh về Đối thoại văn chương (15.04.2013 15:40)
Đón Xuân - Trần Nhuận Minh (01.01.2013 22:18)
Thơ góp phần nâng cao chất lượng sống của con người - Trần Nhuận Minh (09.02.2012 00:14)
 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email



Những bản tin khác:



Lên đầu trang
Các bản tin mới đăng
Một người anh đáng kính
Trần Vân Hạc: Chùm văn xuôi
Mai An Nguyễn Anh Tuấn: Tưởng nhớ Trần Vân Hạc
Nguyễn Trọng Tạo: MÙA THU NƯỚC NGA VÀNG
Lê Thanh Minh: Hoàng hôn nhớ vẫn đây.
Nhạc sĩ Vinh Sử đã thoát nghèo, mua được nhà hơn 1 tỷ nhờ Bolero
Vĩnh biệt nhà văn Nguyễn Quang Thân!
Nguyễn Quang Thân: Vũ điệu của cái bô (truyện ngắn)
Ngô Thanh Hoàn: BẾN SÔNG QUÊ
Nguyễn Ngọc Kiên: Ngày chủ nhật vắng em
Tin cùng chủ đề
Lặng lẽ Nguyễn Thành Long
Hoàng Đức Lương - Quan niệm thi học và thơ
Nguyễn Bảo Sinh-nhà thơ dân gian có chất “Bút Tre”
Lần theo mối tình Chí Phèo - Thị Nở
Trí khôn nhà văn ở đâu?
Nhà thơ Việt Phương: “Nhân chi sơ, tính…phức tạp”
CHÂU HỒNG THUỶ: Nếu tôi là Puskin
Một người Việt làm thơ bằng tiếng Nga
Phê bình văn học - Trường hợp Trương Tửu
Lưu Quang Vũ và một quãng đời, một quãng thơ thường bị bỏ quên
 
 
 
Thư viện hình