Tin tức  |  Diễn đàn  |  Thư viện hình  |  Liên hệ
Thứ tư,
29.03.2017 15:13 GMT+7
 
 
Kho bài viết
Tháng Ba 2017
T2T3T4T5T6T7CN
    1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30 31    
 <  > 
Nhận thư điện tử
Email của bạn

Định dạng

Thành viên online
Thành viên: 0
Khách: 4
Số truy cập: 778385
Tin tức > Phỏng vấn - Trao đổi - Bình văn > Xem nội dung bản tin
THƠ CHÚC TẾT – MỪNG XUÂN CỦA BÁC HỒ
[25.01.2016 17:13]
Xem hình

Dễ thường trên thế giới hiếm có vị đứng đầu nhà nước nào như Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi khi năm mới tới – Tết đến xuân về đều có thơ Chúc Tết - mừng xuân đồng bào, chiến sĩ cả nước và bầu bạn khắp năm châu, trở thành nét đẹp văn hóa của Bác và của dân tộc.


    Sau một năm về nước trực tiếp lãnh đạo Cách mạng Việt Nam, Tết Nhâm Ngọ - 1942 đến, lần đầu tiên Bác Hồ có thơ Chúc Tết – mừng xuân năm mới, chúc đồng bào, chúc Việt minh, chúc phe Dân chủ thế giới…, báo Việt Nam độc lập số 141 đã in trang trọng trên trang nhất. Tết Quý Mùi – 1943, Bác đang bị chính quyền Trung Hoa Dân quốc giam giữ trong các nhà tù ở Quảng Tây, khi Tìm đến Trung Hoa để gặp yếu nhân, mãi cuối tháng 9 – 1944 Bác mới về nước, tháng 2 – 1945 Bác lại sang Trung Quốc, để tranh thủ sự đoàn kết quốc tế cho cuộc cách mạng Việt Nam. Vì vậy, các Tết Quý Mùi – 1943, Giáp Thân – 1944, Ất Dậu – 1945 Bác không có thơ chúc Tết. Từ Tết Bính Tuất – 1946 đến Tết Kỷ Dậu – 1949 trước ngày Bác đi xa, hầu như năm nào Bác cũng có thơ Chúc Tết – mừng xuân (ngoại trừ năm 1955, 1957, 1958 Bác chúc Tết bằng thư).
     Bác để lại cho chúng ta 22 bài thơ Chúc Tết – mừng xuân. Trong 22 bài thơ này, Bác dùng 20 chữ Chúc, 25 chữ Mừng, 18 chữ Xuân, 4 chữ Tết giàu sắc thái biểu cảm và ý nghĩa. Nhiều bài thơ đầu các câu thơ là lời Mừng, lời Chúc, ví như: Mừng năm Thìn vừa qua,/ Mừng xuân Tỵ đã tới,/ Mừng phát động nông dân,/ Mừng hậu phương phấn khởi…(Chúc Tết Quý Tỵ - 1953). Chúc miền Bắc hăng hái thi đua!/ Chúc miền Nam đoàn kết tiến tới!/ Chúc hòa bình thống nhất thành công!/ Chúc Chủ nghĩa Xã hội thắng lợi!  (Chúc Tết Tân Sửu – 1946).
    Đọc thơ xuân, làm thơ chúc Tết đã là một sinh hoạt văn hóa truyền thống trong đời sống cũng như trong văn học của nhân dân ta. Song, có một điều khác hẳn là, thơ Chúc Tết – mừng xuân của Bác Hồ, không phải là thơ chúc tụng thường tình mà đó là những bài thơ Vừa là kêu gọi, vừa là mừng xuân bất hủ, đóng góp cho sự phong phú trong gia tài thơ xuân của dân tộc. Đọc thơ Chúc Tết – mừng xuân của Bác, ta cảm nhận được:
1- Thơ Chúc Tết – mừng xuân của Bác trước hết là tình cảm rộng lớn vĩ đại, chân thành, trung hậu của Bác đối với nhân dân, đối với dân tộc, đối với con người.
Tết Bính Tuất – 1946, Tết độc lập đầu tiên đến trong bối cảnh Nam Bộ đang phải đương đầu với cuộc xâm lược lần thứ hai của thực dân Pháp. Lúc này, cuộc kháng chiến ở Nam Bộ đã trải qua hơn 100 ngày thử thách. Đây là cuộc đọ sức đầu tiên sau Cách mạng tháng 8 thể hiện khí phách của một dân tộc anh hùng, bằng vũ khí thô sơ, gậy tầm vông vót nhọn, bàn chông, súng kíp, súng trường, lựu đạn nhưng với tinh thần dũng cảm chiến đấu ngoan cường của quân và dân Nam Bộ đã chặn đứng âm mưu xâm lược muốn cướp Nam Bộ trong chớp nhoáng. Cảm thông, thấu hiểu đồng bào và chiến sĩ đang xông pha chiến đấu ở tiền tuyến, trong thư Gửi các chiến sĩ và đồng bào nhân Tết Bính Tuất, Bác dành tình cảm thắm thiết, thân thương, động viên các chiến sĩ: “Trong khi đồng bào ở hậu phương đốt hương trầm để thờ phụng tổ tiên, thì các chiến sĩ ở tiền phương dùng súng đạn để giữ gìn Tổ quốc. Trong khi đồng bào ở hậu phương rót rượu mừng xuân, thì các chiến sĩ ở tiền phương tuốt gươm giết giặc. Các chiến sĩ hăng hái chống địch, để đồng bào được an toàn mừng xuân. Trong mấy ngày Tết, đồng bào ở hậu phương ai cũng đoàn tụ sum vầy chung quanh những bình hoa, mâm bánh. Mà các chiến sĩ thì ăn gió nằm mưa, lạnh lùng ở chốn sa trường. Song, hình dung các bạn thì  ấm áp trong lòng thân ái của mỗi một quốc dân”. Thư là như thế, còn trong thơ, cũng với những lời thơ thắm thiết, chứa chan tình cảm và một tinh thần lạc quan hướng về tương lai tất thắng làm phấn kích và ấm lòng chiến sĩ: Bao giờ kháng chiến thành công/     Chúng ta cùng uống một chung rượu đào/ Tết này ta tạm xa nhau/ Chắc rằng ta sẽ Tết sau sum vầy.
Hai chữ chúng ta, Bác đã hòa cùng các chiến sĩ, hòa vào đoàn quân, hoàn toàn không còn khoảng cách giữa lãnh tụ và chiến sĩ với một lời hẹn, một biểu cảm chân tình, thân ái.
Do nắm chắc tình hình thực tế cả ở tiền tuyến và hậu phương, cảm nhận nhạy bén và sâu sắc hiện thực, nắm vững quy luật phát triển cùng với những dự định chính xác và sự lãnh đạo sáng suốt tài tình, Bác chúc đồng bào năm mới Canh Dần – 1950: Kính chúc đồng bào năm mới/ Mọi người càng thêm phấn khởi/ Toàn dân xung phong thi đua/ Đẩy mạnh cuộc chuẩn bị tới/ Chuyển mau sang tổng phản công/ Kháng chiến nhất định thắng lợi.
Lời chúc của Bác cũng đồng thời là lời nhắn nhủ, lời chỉ dẫn tập trung cho hai nhiệm vụ trọng tâm của năm Toàn dân xung phong thi đua và đẩy mạnh chuẩn bị Chuyển mau sang tổng phản công.
Những lời chúc, lời mừng nồng ấm, tình cảm tràn đầy sức mạnh ấy thấm sâu vào lòng người một cách thiết tha, xao xuyến, rạo rực bật ra sức mạnh tiềm tàng của truyền thống, của hiện tại và của cả tương lai.
Đọc thơ Bác và qua những biểu hiện thực tế trong cuộc sống hàng ngày của Bác, ta thấy Bác rất yêu thương con người, quan tâm chăm sóc đến mọi người, động viên mọi người vươn lên cùng đồng tâm hiệp lực trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do. Hình ảnh Bác khắc sâu trong mỗi người dân đất Việt. Chúng ta từng biết, trong thời khắc giao thừa linh thiêng và  ngày mùng 1 đầu năm mới, Bác thường đến thăm những gia đình nghèo khó ở một số ngõ phố của nhân dân lao động Thủ đô, hoặc về ăn Tết với đồng bào Hà Bắc; khi thì đến tận mâm pháo chúc mừng một đơn vị bộ đội, khi thì đi trồng cây với cán bộ và nhân dân trên đồi Vật Lại (Hà Tây)… Sự quan tâm của Bác đối với con người thật là sâu sắc, và cái tình của Bác thật mênh mông. Ở Bác đã quy tụ những tình cảm của nhân dân ta từ ngàn xưa  hòa hợp với tâm hồn của người cách mạng vĩ đại.
2-Thơ Chúc Tết – mừng xuân của Bác là một hiện tượng rất dân tộc, độc đáo, và độc đáo hơn nữa là trong thơ Chúc Tết – mừng xuân ấy lại là đường lối cách mạng cụ thể của một năm, một giai đoạn. Nếu tổng hợp toàn bộ những bài thơ Chúc Tết – mừng xuân của Bác theo trật tự thời gian, thì một hiện tượng hết sức diệu kỳ hiện ra, đó là đường lối cách mạng của Đảng, của Bác qua những chặng đường cụ thể của hai cuộc kháng chiến oanh liệt, vừa chiến đấu vừa sản xuất, vừa bảo vệ vừa xây dựng đất nước. Cho nên giá trị to lớn của thơ Chúc Tết – mừng xuân của Bác không có gì so sánh được, những bài thơ ấy đã đi vào quần chúng, làm cho quần chúng nhận thức đường lối cách mạng, mục tiêu cách mạng và ý thức được nhiệm vụ của mình một cách rõ ràng với một quyết tâm cao.
Ngày 20 – 1 – 1947, giữa phút giao thừa Tết Đinh Hợi, từ chùa Trầm (Hà Tây), Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi tiếng nói Bác Hồ: Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến,/ Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng./ Tiếng lên chiến sĩ, tiến lên đồng bào/ Sức ta đã mạnh, người ta đã đông./ Trường kì kháng chiến nhất định thắng lợi. (Chúc Tết Đinh Hợi – 1947).
Bất cứ bài thơ Chúc Tết – mừng xuân nào của Bác cũng xuất phát từ yêu cầu, từ nhiệm vụ trước mắt và lâu dài, chẳng hạn như bài Chúc Tết Giáp Ngọ -  1954: Năm mới quân dân ta có hai nhiệm vụ rành rành/ Đẩy mạnh kháng chiến để giành độc lập, tự do./ Cải cách ruộng đất là công việc rất to/ Dần dần làm cho người cày có ruộng khỏi lo nghèo nàn.
    Tết Canh Tý – 1960, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta vui mừng với nhiều thắng lợi vẻ vang, mừng Đảng ta, mừng nhà nước ta, Bác chúc mừng: Mừng nhà nước ta 15 xuân xanh!/ Mừng Đảng chúng ta 30 năm tuổi trẻ!/ Chúc đồng bào ta đoàn kết thi đua,/ Xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa./ Chúc đồng bào miền Nam ta bền bỉ đấu tranh,/ Thành đồng miền Nam vững bền mạnh mẽ.
3- Thơ Chúc Tết – mừng xuân của Bác còn là hồi kèn xung trận, là khẩu hiệu hành động, là lời kêu gọi, lời hịch của cha ông và của Đảng hòa vào tiếng nói, tiếng thơ của một con người thời đại, một lãnh tụ vĩ đại.
Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược bước vào giai đoạn quyết liệt, Bác kêu gọi: Xuân này kháng chiến đã năm xuân,/ Nhiều xuân kháng chiến càng gần thành công./ Toàn dân ta quyết một lòng/ Thi đua chuẩn bị, tổng phản công kịp thời.
    Ta thắng, Pháp thua. Cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm kết thúc. Miền Bắc bước vào mùa xuân tươi đẹp, mùa xuân của chủ nghĩa xã hội Đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh; miền Nam giữ vững thành đồng Đấu tranh tiến tới với sức triệu người hơn sóng biển Đông, quyết giành được Hòa bình, thống nhất.
    Giặc Mỹ điên cuồng ồ ạt đem quân xâm lược miền Nam, trắng trợn leo thang đánh phá miền Bắc. Toàn dân tộc Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ. Bài thơ Chúc Tết Kỷ Dậu – 1969 của Bác trở thành lời kêu gọi cứu nước khẩn thiết của Tổ quốc, là lời hịch của cha ông ta vang vọng từ ngàn xưa, là nghĩa vụ thiêng liêng của chúng ta đối với muôn đời con cháu: Năm qua thắng lợi vẻ vang,/ Năm nay tiền tuyết chắc càng thắng to./ Vì độc lập, vì tự do,/ Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào./ Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào,/     Bắc – Nam sum họp, xuân nào vui hơn!
    Đồng chí Xuân Thủy đã nói đúng cảm xúc và suy nghĩ của chúng ta về thơ Chúc Tết – mừng xuân của Bác: Mỗi vần thơ chúc Tết tối ba mươi/ Như pháo nổ, như hoa cười, như truyền hịch    (Đinh ninh lời thề)
4- Thơ Chúc Tết – mừng xuân của Bác là thứ thơ thân ái, nôm na, rất giản dị mà không dễ dãi, tiếng nói thông thường nhưng lại là tiếng nói của thơ, nó xuất phát từ một tâm hồn nhân hậu, cao cả, một tầm tư tưởng lớn của thời đại, khi viết là thành thơ. Thơ ấy sống và sống mãi.



Sức sống của thơ Bác là nói một cách dễ hiểu, sâu sắc, hàm súc về những vấn đề trung tâm của cách mạng đáp ứng sự chờ đón, khát khao của quần chúng, giải đáp những câu hỏi của thời đại. Bất cứ bài thơ Chúc Tết – mừng xuân nào của Bác cũng xuất phát từ yêu cầu, từ nhiệm vụ của cách mạng. Chất liệu của thơ Bác là chất liệu của hiện thực được ánh sáng lí tưởng soi rọi nên vừa chân thật, vừa bay bổng. Tất cả đều hài hòa trong cái nhìn toàn diện, thấu đáo: Năm Dần, mừng xuân thế giới,/ Cả năm châu phấp phới cờ hồng./     Chúc miền Bắc thi đua phấn khởi,/ Bốn mùa hoa Duyên Hải, Đại Phong./ Chúc miền Nam đấu tranh tiến tới/ Sức triệu người hơn sóng biển Đông. (Chúc Tết Nhâm Dần – 1962) hoặc: Mừng miền Nam rực rỡ chiến công,/ Nhiều Dầu Tiếng, Bầu Bàng, Plâyme, Đà Nẵng…/ Mừng miền Bắc chiến đấu anh hùng,/ Giặc Mỹ leo thang ngày càng thua nặng.
    Thơ Bác rất linh hoạt, đa dạng, không bị câu thúc bởi niêm luật hoặc sự gò bó của thể loại. Bác sử dụng nhiều thể thơ: Đường luật, tứ tuyệt, lục bát… và cả thể thơ tự do nữa. Đây là những vần thơ lục bát thiết tha: Bắc – Nam như cội với cành,/ Anh em ruột thịt đấu tranh một lòng./ Rồi đây thống nhất thành công,/ Bắc – Nam ta lại vui chung một nhà     (Chúc Tết Giáp Thìn – 1964). Những bài thơ tứ tuyệt như một bài ca: Xuân về xin có một bài ca,/ Gửi chúc đồng bào cả nước ta:/ Chống Mỹ hai miền đều đánh giỏi,/ Tin mừng thắng trận nở như hoa.
    Trong các bài thơ Chúc Tết – mừng xuân của Bác có nhiều bài nghiễm nhiên ra nhập thơ ca dân gian, nhiều bài đã là đề tài sáng tác cho âm nhạc. Các nhạc sĩ đang cố gắng từ những bài thơ của Bác sáng tạo và làm phong phú thể hát chúc, hát mừng của nền âm nhạc dân tộc. Bác và Đảng đã mở ra cho dân tộc một mùa xuân mới, chúng ta kiên quyết giữ gìn lấy, Bác rất yêu mùa xuân. Thơ chúc Tết của Bác bao giờ cũng gắn với mừng xuân. Mùa xuân là của Bác, của Đảng, của toàn dân tộc ta. Không phải ngẫu nhiên mà Bác viết nhiều về mùa xuân, về Tết, có những câu Bác nói đến ba lần xuân: Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên,/ Xuân giang, xuân thủy tiếp xuân thiên. (Đêm nay, rằm tháng Giêng, trăng vừa tròn,/ Sông xuân, nước xuân, liền với trời xuân).
    Xuân trong thơ Bác khoáng đạt, tươi vui.
    Xuân trong thơ Bác là xuân của đất nước, của dân tộc. Đất nước đang vào xuân, Cảnh đông tàn đang qua Cảnh huy hoàng ngày xuân đã đến và đang đến. Đã bao nhiêu năm chiến đấu và xây dựng đất nước, đã bao nhiêu năm Tết trồng cây làm theo lời Bác, đang thực sự Làm cho đất nước càng ngày càng xuân, làm cho Nhất niên tứ quý đổ xuân thiên (Một năm là cả bốn mùa xuân).
    Bác – Đảng – Mùa Xuân là một.
    Mỗi khi đất nước sang xuân, mỗi lần Tết đến, chúng ta lại khám phá thêm được cái hay, cái đẹp của thơ Chúc Tết – mừng xuân của Bác. Từ ngày Bác đi xa, quân và dân hai miền Nam – Bắc đã thực hiện lời Bác dạy. Đế quốc Mỹ đã cút, Ngụy đã nhào, non sông thu về một dải, Bắc – Nam sum họp một nhà, đất nước hoàn toàn độc lập, tự do. Nhưng từ ngày Bác đi xa,khi giây phút thiêng liêng giao thừa đến, không còn được nghe tiếng nói hiền từ, ấm áp vang xa của Bác chúc Tết, mừng xuân đồng bào, chiến sĩ và bầu bạn quốc tế.Dẫú vậy, những bài thơ Chúc Tết – mừng xuân của Bác vẫn đi cùng năm tháng, vẫn âm vang trong lòng mọi người mỗi khi Tết đến, xuân về, Bác sống trong sự nghiệp cách mạng của chúng ta. Vẫn muốn mượn mấy câu thơ của nhà thơ Tố Hữu làm lời kết luận: Bác ơi! Tết đến giao thừa đó/ Vẫn đón nghe thơ Bác mọi lần/ Ríu rít đàn em vui pháo nổ/ Tưởng nghìn tay Bác vỗ sang xuân.(Theo chân Bác)

Lê Xuân Đức
 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email



Những bản tin khác:
Phan Liêu - ông là ai? (30.10.2014 02:35)



Lên đầu trang
Các bản tin mới đăng
Một người anh đáng kính
Trần Vân Hạc: Chùm văn xuôi
Mai An Nguyễn Anh Tuấn: Tưởng nhớ Trần Vân Hạc
Nguyễn Trọng Tạo: MÙA THU NƯỚC NGA VÀNG
Lê Thanh Minh: Hoàng hôn nhớ vẫn đây.
Nhạc sĩ Vinh Sử đã thoát nghèo, mua được nhà hơn 1 tỷ nhờ Bolero
Vĩnh biệt nhà văn Nguyễn Quang Thân!
Nguyễn Quang Thân: Vũ điệu của cái bô (truyện ngắn)
Ngô Thanh Hoàn: BẾN SÔNG QUÊ
Nguyễn Ngọc Kiên: Ngày chủ nhật vắng em
Tin cùng chủ đề
Choáng váng truyện sex trẻ em
NGƯT Vũ Thế Khôi: Không có đạo thầy trò thì đừng nói đến giáo dục
Mệnh lệnh của tổ tiên - PGS-TS Trần Hữu Tá
Tưởng nhớ thầy Trần Quốc Nghệ - Người thầy siêu giỏi
Phiên âm hay viết theo tiếng Anh?
Vì sao tôi dịch lại thơ Đường?
Người viết trẻ có còn mơ vào Hội Nhà văn?
Khoảng trống của văn học Việt Nam trên văn đàn Nga
Cụ Vũ Đình Hoè, cựu Bộ trưởng tư pháp kể chuyện về luật sư Nguyễn Mạnh Tường tại phiên toà xét xử ông cố vấn Vĩnh Thuỵ
Nỗi xấu hổ của dịch giả Ruồi Trâu
 
 
 
Thư viện hình