Tin tức  |  Diễn đàn  |  Thư viện hình  |  Liên hệ
Chủ nhật,
26.03.2017 22:51 GMT+7
 
 
Kho bài viết
Tháng Ba 2017
T2T3T4T5T6T7CN
    1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30 31    
 <  > 
Nhận thư điện tử
Email của bạn

Định dạng

Thành viên online
Thành viên: 0
Khách: 4
Số truy cập: 777159
Tin tức > Văn học thế giới > Xem nội dung bản tin
Thần Thi Vương Bột [Kỳ 2] [c] Đền phúc vị, huyền thoại và sự thật
[19.12.2013 03:20]
Xem hình
Tôi lại hành hương về xứ Nghệ để thỉnh Kinh (1) viếng phần mộ Thân phụ và thăm Từ mậu đang sống chập chờn trong cõi âm dương. Giữa những ngày tử biệt sinh ly tan nát lòng này, tôi vẫn biết tỉnh táo nén đau thương không quên lặn lội xuống tận Cửa Hội cùng chú Hoàng Hà (lại vẫn chú Hoàng thân kính) chụp cho bạn đọc những tấm hình màu từ những di vật còn sót lại ở ngôi đền Vương Bột - những tấm hình có lẽ không riêng gì bạn đọc Việt Nam mà cả bạn đọc Trung Quốc đang mong chờ !

Vào thu, biển Cửa Hội xanh đậm, nắng vàng ươm lao rao trên sóng bạc đầu. Tôi phóng tầm mắt nhìn vào mung lung: trong những cánh buồm no gió ngang tàng ngoài khơi xa nào đâu là cánh buồm của chàng Vương sang Hoan Châu nước Việt thăm cha thuở trước ?

Năm năm lìa xứ, tôi vẫn mang đi trong tâm tưởng mặt biển lặng xanh trong mơ màng với thấp thoáng những cánh buồm nâu dân dã trong màu mắt ai mỏi mòn chờ đợi !

Phải chăng những câu thơ hay nhất trong Truyện Kiều Nguyễn Du đã tả là từ chỗ này đây, nơi tôi đang đứng, sóng bủa mơn man dưới bàn chân cát mịn, nơi cách đây đúng 1.315 năm thi hào Trung Quốc “Vương Bột ải tử đầu hà, phá quân (sao) hãm thiên thương (sao) thủy cục”.(Vương Bột chết khổ  đầu sông, chết đuối về  nước (2). Giờ, tôi đọc to câu ấy lên hỏi trước muôn trùng sóng vỗ, nơi chàng thi sĩ họ Vương tử nạn mà sởn hết gai ốc trong người, bàng hoàng vì sự linh ứng của nó.

Anh Văn Tự, người thợ may ở xã Nghi Xuân, Nghi  Lộc, môt bạn đọc trung thành của báo Văn Nghệ, người vẫn luôn giữ một  gián cách tiết độ vừa phải đứng bên tôi dường như tiếp nhận được sự thần giao cách cảm đó đã kể tôi nghe:

- Hồi nhỏ, tôi được các cụ từ trực tiếp thờ cúng đền Vương Bột nói lại là trên khúc sông này, vào khoảng đúng giờ Ngọ, mòi nước nổi lên cơn lốc nhẹ xoáy rộng vùng, rồi một chàng trai trẻ tuấn tú độ 25-27 tuổi,  dáng quắc thước, mặc áo hồng gấm, chân di hài sảo, tay cầm sách thung dung dạo quanh vùng, cứ y như nhà thơ đang trầm tư tìm kiếm thi tứ để ngâm vịnh. Tiếng thơ ai oán, thổn thức cứ nổi lên mỗi ngày. Những người chèo đò, những ngư dân sinh sống ở vùng này thường dâng hương khi qua sông, lúc đánh cá cầu mong được sự yên ổn may mắn. Người ta tìm bộ Đường Thư và nhón lấy những câu thơ hay của Vương Bột để ngâm ngợi thưởng thức hầu làm sống lại tâm linh thơ của ông Thần thi xứ Bắc mà hình hài đã gửi lạ trầm tích vĩnh cửu trên dòng sông Cửa Hội quê kiểng…

Anh Tự kể, tai tôi như âm u vọng về từ một xứ mê huyền. Tôi nhìn trân trân, bất giác chỉ tay sang bờ nam Cửa Hội hỏi anh Tư:

- Mấy năm trước hành hương  về viếng mộ cụ Nguyễn Du, tôi có nghe bà con bên huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh) nói có một miếu thờ Vương Bột nữa ở cửa sông bên ấy, anh có biết không ? Rất tiếc hôm đó, tôi cùng giáo sư Hàng Hải mệt phờ không thể đi tiếp tìm hiểu được.

- Thưa không, tôi không rành ạ.

- Tôi mường tượng và đưa ra giả thiết như thế này anh nghe có lọt tai không nhé: bên đó là nơi thừa tự các gia nhân, chỗ xác người và thuyền tấp vô ấy?. còn bên này dĩ nhiên là thi hài chàng Vương rồi (?). Sự linh ứng của nhà thơ bao trùm cả một vùng mênh mông sông nước. Mỗi xứ đã lập miếu thờ riêng theo lòng thành của mình.

- Nghe cũng có lý đấy ạ. Việc này xin để các  nhà khảo cổ, các sử gia trả lời hộ. Xin mời anh, ta đi tiếp.

Chúng tôi đi ngược dòng sông lên viếng đền. Chú Hoàng bệnh. Anh Văn Tự bỏ việc thay chú dẫn tôi đi. Anh Văn Tự là người trọng nhân nghĩa, chuộng văn học, là học trò cưng, đứa em thân thiết, người bạn tri âm của chú Hoàng Hà. Anh phải gồng mình gánh chịu trên đôi vai mảnh mai mười một  miệng ăn với cái nghề may èo uột nơi thôn mạc mà miếng cơm manh áo cứ đùa cợt từng ngày.

Đến trước đền Vương Bột, chúng tôi gặp một nấm đất kỳ dị. Lòng tôi xao xuyến, linh cảm mơ hồ.

Anh Văn Tự chắp tay thi lễ:

- Thưa, người nằm dưới đất này là Đầu xứ Thái – Hoàng Phan Thái – Nhà thơ, người anh hùng đã tuẫn nạn nơi đây. Cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình nhà Nguyễn không thành, Đông hải Đại tướng quân bị Tổng đốc Nghệ An Hoàng Tá Viêm đem quân về vây bủa bắt được giải về nguyên quán hành quyết ngay chỗ này năm 1865, nghĩa là sau khi ngôi đền Vương Bột trùng tu khánh thành được đúng 9 năm.

Tôi lịm người kêu lên:

- Ôi trời ! té ra nhân vật kẻ sĩ yêu qúy của tôi (3) lại nằm đây bầu bạn bên cạnh Vương Bột. Hai nhà thơ cũng chung một nòi tình ! Rõ là hai khí phách một tinh thần phản kháng !

Nhìn gò đất, tôi lầm nhẩm đôi câu đối của Hoàng Phan Thái khảng khái đọc trong đề lao Vinh:

Thiên khả thê thân, huyền đảo giang hà thanh nhất nộ (Trời nếu thương thân, dốc ngược giang hà nguôi mối giận)

Địa nan mai cốt, vãn hồi nhật nguyệt bạch tam quân (Đất khôn vùi cốt, kéo lùi nhật nguyệt rõ ba quân)

… mà chạnh niềm đau. Lẽ nào chính quyền địa phương mãi đến bây giờ vẫn còn để bậc danh nhân đất nước này nằm hòa trong cát bụi giữa thập loại chúng sinh !?

-  Sinh thời – Anh Văn Tự thủ thỉ kể - Khi còn là một bậc nho sinh hay chữ, ông Đầu xứ Thái thường từ làng Cổ Đan quê ông  (nay là xã Phúc Thọ,  Nghi Lộc) sang làng Đông Chu, xã Lộc Hải (nay là xóm Xuân Lộc, xã Nghi Xuân) thăm viếng ngôi đền Vương Bột luôn. Hoàng Phan Thái là người đã tích cực truyền bá nền thơ Đường, đặc biệt là thi phẩm của Vương Bột cho toàn xứ. Theo truyền thuyết thì chính ông ta “yểm” thơ Vương chứ không phải là Tả Ao tiên sinh. Xin lỗi anh. Ông Đầu xứ “yểm” ngay trên một con đò ngang, giữa thanh thiên bạch nhật, trong cuộc đàm đạo tương đắc thơ Vương với người… lái đò ! Theo thiển ý của tôi thì truyền thuyết này thích hợp hơn với tài năng, tính cách và tư duy Hoàng Phan Thái, con người đã nổi tiếng ngông ngạo trên pháp trường: “Ba hồi trống giục thây cha kiếp - Một nhát gươm đưa bỏ mẹ đời”; con người khi đầu sắp rụng còn hóm “Thằng nào chém tớ chém cho đứt  - Trần gian ngoảnh lại nhắn đôi câu - Tấm thân bảy thước coi làm ngắn – Mà chí ngàn năm vẫn sống lâu – Máu đỏ bôi đen trò đế bá - Vết son sổ toẹt mộng công hầu - Thằng nào chém tớ chém cho đứt - Có lấy tiền công tớ trả sau.”

Tôi phì cười khoát tay:

- Hồ Tông Thốc, Tả Ao, giờ lại Hoàng Phan Thái… Thôi, ai “yểm” mà chẳng được. Cứ lãng đãng sương khói thế mà lại hay.

Đến trước cổng đền, tôi cung kính đặt những bước chân bồi hồi như cách cách đây năm năm từng đặt những bước chân bùi ngùi thương cảm. Đến bên một mảng tường đổ nát, tôi dừng chân, thân mật cầm tay anh Văn Tự:

- Này anh, là người vốn đẻ ở đây, lớn lên ở đây, giờ đã ngót 50 năm, anh còn nhớ những gì về ngôi đền này không ? Thử kể, tả cho tôi nghe với ?

Lời thỉnh cầu này đã làm hai mắt anh Văn Tự vụt sáng, con người anh linh động hẳn lên, rút ngắn lại những gián cánh. Giống như một hướng dẫn viên du lịch thục thụ, anh Tự kể vanh vách:

Ngôi miếu cổ cũ nhỏ quá không thể chứa nổi cái chất hào phóng của thi nhân, và người xứ này nhận thấy không thể thỏa mãn với tầm cỡ một thiên tài bèn xúm nhau lại đóng góp dựng lại tòa đền đường bệ, khang trang hơn. Đó là đền Phúc Vị nơi chúng ta đang đứng đây. Đền được khẩn trương trùng tu làm mới và đã hoàn thành vào năm Tự Đức lục niên, tức 1854. Cấu trúc của đền gồm ba khu Tiền đền, Trung đền, Hậu đền. Khu Trung đền làm nơi thờ cúng cha con nhà thơ Vương Bột, Vương Phúc Cơ, còn Tiền đền Hậu đền bài trí các đồ tế khí. Dân làng rủ nhau trang trí nội thất, trồng cây cảnh trông tôn kính, râm mát và thanh lịch lạ thường. Đền xây xong, nhân dân vẫn chưa yên lòng vì chưa có tượng để thờ. Một hôm, thần mộng báo cho ông lái đò là sẽ có một cây gỗ quý từ trên nguồn trôi xuống, hãy đưa về làm tượng hai ngài. Quả thật, sáng hôm sau từ đâu giạt đến một cây gỗ to tỏa hương thơm ngát. Ông lái đò giòng cây mộc hương về neo đậu trước bến đình làng. Làng đã cử người dày công đi tìm các nghệ nhân tài hoa về tạc hai pho tượng đó.

Di tượng Vương Bột hiện đang được thờ cúng tại gia đình ông Nguyễn Văn Sung xã  Nghi Xuân, Nghệ An

Để công trình nghệ thuật điêu khắc được hoàn hảo về đường nét và hình khối, khi tượng làm xong, làng đặt hai pho tượng ở ngã ba làng đúng ba tháng mười ngày cho mọi người qua lại chiêm bái, phẩm bình, kể cả các chú khách người Trung Hoa. Khi mọi người đã công nhận là kiệt tác, làng mới quyết định đem sơn son thếp vàng, xong rước hai ngài lên thờ ở cung đình danh dự nhất của khu đền Trung. Bấy giờ, một khó khăn  nữa lại đến với dân làng: chẳng ai biết đích xác nhà thơ Vương Bột mất ngày tháng nào!. Dân làng cho mời các kỳ lão, các vị có học vấn uyên bác, tinh thông Hán học, am tường về văn nghiệp của ngài. Với lòng tôn kính sâu sắc con người và tư tưởng, các vị đó đã dõi theo cuộc đời và thơ văn, quyết định lấy ngày 9 tháng 9 âm lịch làm ngày giỗ chính thức hàng năm. Đó là ngày Trùng Cửu, có lẽ là này đau buồn nặng nề nhất của đời ngài bị vua ruồng bỏ.

Từ đó về sau nhân dân thường có hoa tươi, nến sáng, hương khói suốt ngày. Cảnh đền càng ngày càng trở nên khang trang nhộn nhịp. Hồi còn học cấp hai – anh Văn Tự dim cặp mắt nhớ lại - thầy Hoàng Hà dạy văn thường dẫn tụi học sinh chúng tôi vào tham quan cảnh đền và kính viếng nhà thơ. Được thầy giới thiệu tiểu sử vẻ vang của ngài, chúng tôi mới hết kính nhi viễn chi. Anh biết đấy, tuổi nhỏ quỷ sứ của bọn học trò nhất qủy nhì ma quấy phá khắp nơi thế nhưng đâu dám bén bảng tới chốn linh thiêng này !

Những ngày đó có thầy đi kèm, chúng tôi mới hết run dạn dĩ lên dắt tay nhau cùng bước vào thánh địa. Từ ngoài cổng, chúng tôi thấy hai con voi đá xanh to khỏe đứng trấn giữ đền. Bốn cây cổ thụ trồng bốn góc vườn. Bốn gốc thông già cao vút chọc trời được trồng ở bốn góc đầu hồi ba toà đền, tán lá xanh rì vi vu đàn hát trước gío. Một cây phượng bằng hai người vầng, lá xanh như khói chen giữa những chùm hoa lửa đỏ chói cháy rực trời, tán xòe ra xum xuê mát rượi cả một vùng.

Vào khu Trung đền là nơi thờ hai vị thần Vương Bột, Vương Phúc Cơ có bày biện đủ hoa nến, ống đài đươm hoa trái, hòm sắc đựng thần phả ghi chép công đức của hai cha con vị phúc thần đã cứu giúp dân bản xứ. Hai bên bàn thờ là hai câu đối rực rỡ dòng chữ sơn son thếp vàng:

Long Môn văn phái ba lưu viễn

Ngư Hải hương yên tuế nguyệt trường.

Hồi đó, thầy Hoàng Hà đã dịch như sau:

Dòng thi thư của xứ Long Môn (Quê Vương Bột) từ xa sóng đưa đến,

Khói hương dân Ngư Hải (biển cá) xin thờ cúng đến muôn đời.

Trên dưới các tượng là bức hoành phi đại tự chính điện “Thung quê (1) song linh” (cha con đều hiển linh, hai bức hoành phi hai bên tả hữu “Nhân kiệt địa linh” (Người tài đất thiêng) “Vật hoa thiên bảo” (Vạn vật và hoa cỏ là báu vật của trời)… đó toàn là những tiếng tôn xưng xứng đáng đối với một bật hiền tài.

Anh Văn Tự dắt tôi đi khắp khuôn viên đền còn sót lại, nơi người ta chưa cất nhà. Chúng tôi vừa đi vừa trò chuyện. Anh văn Tự chỉ trỏ và kể :

-  Thuở đó làng Phúc Vị được chia làm hai khu, mỗi khu có trách nhiệm bảo vệ, tu sửa đường sá về mỗi phía. Tuy được cắt đặt rạch ròi nhưng người dân cả hai khu đều rất có ý thức chăm sóc vườn tược, nến hương chu đáo, cắt tỉa cây cành… làm cho cảnh quan trở nên nghiêm cẩn, thơ mộng. “Đông Nam mỹ”  (khu Đông khu Nam đều đẹp), quả đúng là nơi thờ phượng một thi hào thế giới, điểm sáng hội tụ thu hút khách thập phương về hành hương. Hàng năm đến ngày Trung Cửu giỗ ngài, dân lại rộn ràng tổ chức lễ hội. Cả một khúc sông Lam trước đền huyên náo tiếng mái chèo đua bơi chải khua vang trống giong cờ mở, tiếng nói tiếng cười hân hoan… tưng bừng không kém gì tết Đoan Ngọ (5-5 âl) mà nhân dân Trung Hoa dành tưởng niệm nhà đại ái quốc trung trinh Khuất Nguyên trên sông Mịch La, nơi ngài trầm mình tuẫn tiết.

Giờ đây, người dân Ngư Hải rất lấy làm đau xót tưởng nhớ lại ngôi đến Phúc Vị   thân yêu thờ Vương Bột không còn nữa! Ai mà chẳng óan ghét chiến tranh tàn phá và tác nhân con người vì kém hiểu biết hủy hoại đi cái báu vật trời đất linh thiên đã ban cho chúng ta, phải không anh ?

Giọng anh VănTự lắng xuống gợi một niềm thương cảm man mác. Anh ngưng lại, lóng ngóng đưa tay rút khăn lau mồ hôi lấm tấm trên mặt dưới ánh nắng gắt oi nồng. Tự dưng câu thơ Vương Bột thầm thì âm vang lên trong hồn tôi “Gác Đằng cao ngất bãi sông thu”, rồi tiếng thở dài thoát ra từ miệng tôi trước gương mặt lặng lẽ của anh:

 “Đằng Vương thuở trước giờ đâu tá ?”

Anh Văn Tự cũng chạnh lòng bâng quơ::

Vâng “Đằng Vương thuở trước giờ đâu tá?

*

Chiều 31-8-1992, tôi ghé thăm Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Nghệ Tĩnh giữa lúc toàn Ban chấp hành Hội đang họp khẩn cấp để chia tỉnh. Gặp nhau lâu ngày anh em bắt tay vồn vã vui vẻ. Ông Chủ tịch Xuân Hoài ngưng cuộc họp dành cho khách quý xa mươi  lăm phút. Nhà thơ Thạch Quỳ xởi lởi:

-  Bài VƯƠNG BỘT TỬ NẠN NƠI MÔ ? của anh đăng trên báo Văn Nghệ số 29 đã làm cho cả hội Văn nghệ Nghệ Tĩnh xôn xao. Rằng…thì là chúng tôi rất lấy làm xấu hổ vì từ trụ sở Hội đến nơi Vương Bột tử nạn chỉ có 8 km mà chẳng ai hay biết gì cả, trong lúc anh ở tận mãi Sài Gòn tít tắp mù khơi lại tỏ tường đến thế.

Tôi thưa với anh em văn nghệ quê nhà là tôi chẳng có tài cán gì ghê gớm trong việc phát hiện cả. Tình cờ thôi, tôi đi tìm cái nọ thì nẩy ra cái này. Ngờ đâu một bài báo nhỏ khoắng bút vài ba tiếng đồng hồ lại làm kinh động nhân tâm đến thế, hơn cả hàng loạt sách tâm huyết và công phu của tôi đã được in! Theo Biên tập viên báo Văn Nghệ thì Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội được tin này sớm nhất đã phóng xe tới Viện Quan hệ Quốc tế bộ Ngoại giao, bộ Văn hóa, báo Văn Nghệ hỏi thực hư, xong fax về Bắc Kinh. Nhân dân Trung Quốc đã sửng sốt trước sự kiện này chứ không riêng gì hai học giả Giáo sư Lâm Trọng Hàm và nữ Thạc sĩ Nghê Hà Vận sửng sốt. Tôi nói rằng tôi mới ở dưới Cửa Hội làm phóng sự ảnh cho báo Văn Nghệ vừa lên Vinh. Chính quyền xã Nghi Xuân rất cảm kích đã thảo công văn gửi kiến nghị cho bộ Văn hóa, nhờ báo Văn Nghệ đăng công khai - đề nghị trùng tu ngôi đền thờ Vương Bột trên quê hương của họ. Bà con ở dưới Trang bảo việc tái thiết đền Phúc Vị là rất chính đáng. Giới trí thức của địa phương thì tận tình giúp cán bộ khoa Sử trường Đại học Tổng hợp về khảo sát, xác minh. Các cụ ông cụ bà vô cùng hoan hỉ. Họ đón tôi như đón một sứ giả của điều thiện. Anh Nguyễn Công Thiền giáo viên trường cấp 2 Nghi Phú, Nghi Lộc trầm ngâm nói  là nếu anh có đủ vốn anh sẽ xin đăng cai với chính quyền thầu xây ngôi đền làm tụ điểm du lịch văn hoá cho khách bốn phương. Tầm nhìn doanh nghiệp này rất đáng cho sở Văn hóa Nghệ An tham khảo?

Tôi nói:

Vương Bột tử nạn trên xứ mình, bí mật trùm màn đen suốt 13 thế kỷ. Chúng ta đã phát hiện cho Trung Quốc một ngôi mộ tổ sáng giá. Người Tàu là họ rất quý mồ mả tiền nhân. Việc hai nhà Việt Nam học sang ta để lo vụ này đã chứng tỏ điều đó. Bộ Văn hóa của hai nước Việt – Trung nên hiệp đồng chặt chẽ mà lo chung. Văn hóa là linh hồn của mỗi dân tộc. Ánh sáng toả ra từ ngôi đền Vương Bột chính là thứ văn hóa chung đúc độc đáo của hai dân tộc. Hai dân tộc sẽ hiểu nhau, thấm thía nghĩa tình anh em trong những sắc màu của nền văn hóa riêng chung đó. Các bạn ở Hội văn nghệ quê nhà xin cổ súy cho việc này.

- Cổ súy là làm sao ? Nhà thơ Minh Huệ cắt ngang nói.

-  Thưa anh, là viết kỹ về Vương Bột cho thế hệ này và thế hệ sau đừng tái phạm bi kịch phá đền do kém hiểu biết. Tôi nhớ là có một cụ ở Nghi Xuân rầu rầu nói với tôi :”Giá có bài báo của anh trước thì ai nỡ dám xúc phạm vào nơi tôn nghiêm thờ ngài là chi! Chúng tôi càng đọc bài đó càng thương ngài và hối hận.!”

Ông Tổng biên tập Thạch Quỳ và Phó Tổng Đặng Văn Ký:

-  Chúng tôi định đăng lại bài bút ký điền dã của  anh trên báo Văn Nghệ tỉnh nhà (4). Xin phép tác giả.

- Ngộ tồông ý ngay ! Nhưng coi chừng lỗi morát bài ấy sai quá xá. Còn ảnh thì quý vị quá bộ xuống Cửa Hội mà “nháy” lấy.

(Còn tiếp kỳ sau :

 [d] Văn nghiệp của Thi hào Vương Bột

 [e] Trao đổi về sự kiện VƯƠNG BỘT TỬ NẠN NƠI NÀO ? giữa Thái Doãn Hiểu và Đoàn Nhà văn Trung Quốc.

------------------------------------------------

(1) Lấy những pho sách cổ từ thư viện gia đình 30-8-1991.

(2) Câu này do Kỹ sư Tăng Văn Phiệt, Phó Giám đốc công ty xây lắp điện 2 Xí nghiệp phụ kiện lưới điện Việt Nam từ Thủ Đức - một người nghiên cứu rành về số tử vi chạy đến thảng thốt nói với tôi hôm ở Sài Gòn là anh rút từ quyển Một nghìn hai trăm câu phú tử vi chuyên luận về các kiểu chết các nhân vật nổi tiếng phương Đông.

(3) Xem CHÂN DUNG CÁC NHÀ VĂN QUA GIAI THOẠI (6 tập) của Thái Doãn Hiểu – Tập 1 Chuyện hay nhớ mãi, mục Hoàng Phan Thái từ trang 154-160

(4) Sau đó thì Hội VHNT Nghệ An đã ra một kỷ yếu về Vương Bột với đầu đề THẦN THI VƯƠNG BỘT mà bài viết của tôi đăng đầu quyển với vị trí là “cái ngòi pháo”.

Tin liên quan:
Vì sao văn học Trung Quốc đương đại không có tác phẩm sám hối? (12.04.2016 20:03)
"Hoàng Hạc Lâu": Ba bản dịch độc đáo (Nguyễn Khôi) (04.10.2013 15:27)
Nhà văn đói ăn - An Điềm (Trung Quốc) (28.11.2012 23:49)
Nobel văn chương 2012, một giải thưởng nhiều tranh cãi (15.10.2012 18:57)
Mạc Ngôn giải tỏa 'mặc cảm Nobel' cho Trung Quốc (15.10.2012 02:01)
 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email



Những bản tin khác:
Chùm thơ Hungari (23.07.2015 20:55)
Mạc Ngôn trong Biến (23.02.2014 19:37)



Lên đầu trang
Các bản tin mới đăng
Trần Vân Hạc: Chùm văn xuôi
Mai An Nguyễn Anh Tuấn: Tưởng nhớ Trần Vân Hạc
Nguyễn Trọng Tạo: MÙA THU NƯỚC NGA VÀNG
Lê Thanh Minh: Hoàng hôn nhớ vẫn đây.
Nhạc sĩ Vinh Sử đã thoát nghèo, mua được nhà hơn 1 tỷ nhờ Bolero
Vĩnh biệt nhà văn Nguyễn Quang Thân!
Nguyễn Quang Thân: Vũ điệu của cái bô (truyện ngắn)
Ngô Thanh Hoàn: BẾN SÔNG QUÊ
Nguyễn Ngọc Kiên: Ngày chủ nhật vắng em
Trần Hưng: Chùm thơ thứ nhất
Tin cùng chủ đề
Các nhà thơ giải Nobel
Astrid Lindgren- Nữ văn sĩ của trẻ em
'Đồi gió hú' là chuyện tình đẹp nhất mọi thời
Quỳnh Dao – Tình yêu vẫn còn nồng nàn
Tiểu thuyết Kim Dung: Cuộc 'đại phẫu thuật lần thứ ba'
Những người tình của Victor Hugo
"Biểu tượng đã mất" - sách bán chạy nhất của Dan Brown trong tháng 9
Thành Long: Đa tài và... đa tình
Tâm sự tuổi già - đôi điều cảm ngộ (Dương Trạch Tế - Trung Quốc)
'Tôtem sói' đoạt giải Booker châu Á
 
 
 
Thư viện hình