Tin tức  |  Diễn đàn  |  Thư viện hình  |  Liên hệ
Thứ năm,
30.03.2017 12:39 GMT+7
 
 
Kho bài viết
Tháng Ba 2017
T2T3T4T5T6T7CN
    1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30 31    
 <  > 
Nhận thư điện tử
Email của bạn

Định dạng

Thành viên online
Thành viên: 0
Khách: 2
Số truy cập: 778794
Tin tức > Di sản Văn học > Xem nội dung bản tin
Của César xin trả lại cho César - Thái Doãn Hiểu
[02.07.2013 05:11]
Thời kỳ còn sống lang thang Kazan, nhà văn trẻ tài năng M. Gorky luôn làm phiền cho trật tự của chính quyền, cảnh sát Nga Hoàng tống lao ông. Trong tù, ông vẫn viết truyện, tuồn ra ngoài in đều đều trên các mặt báo. Tên cai ngục đọc và rất mê truyện ngắn của M.Gorky. Vốn sính văn chương nhưng bất tài, y vào tận ngục thất kỳ kèo với nhà văn viết cho hắn mỗi tuần một truyện, đổi lại hắn sẽ thả tù nhà văn sớm. Từ đó, gã cai ngục Phêôđo xuất hiện như một nhà văn thực thụ trên văn đàn. Y lấy quyền lực đổi lấy danh hão, còn M.Goky đổi truyện lấy tự do. Cả hai bên đối tác đều có lợi, chẳng ai mất mát gì. Về sau, Gorky đã lấy lại những truyện ngắn ấy xếp vào tài sản của mình. Đó là chuyện chính danh trong học thuật. Còn ngày nay ở ta thì lại khác cơ đấy.

(1)  Ai là tác thật của bộ sách Việt Nam Thi nhân tiền chiến ?

Khi  đặt  chân đến định cư ở đất Sài Sòn vào cuối năm 1976, tôi liền hối hả tiếp xúc với văn học miền Nam. Có một bộ sách sau cuốn Thi nhân Việt Nam  của Hoài Thanh – Hoài Chân là bộ Việt Nam Thi nhân tiền chiến của Nguyễn Hữu Trọng và Nguyễn Tấn Long là đáng chú ý. Bộ sách chia làm ba quyển dày  thượng, trung, hạ   khổ lớn đầy  ắp những tư liệu. Sau giải phóng sách có in lại. Các nhà nghiên cứu và sinh viên khoa văn rất cần quyển sách này để nghiên cứu hiểu bổ sung cho giai đoạn văn học Tiền chiến.

Một lần đến nhà in số 6, ngay ở tầng trệt dưới căn hộ tôi ở trên đường Trần Hưng Đạo để in quyển sách Lời vàng, tôi  may mắn gặp tác giả Nguyễn Tấn Long. Ông Long người  tầm thước, to béo không ra dáng một học giả mà có dáng một thương gia. Tôi lân la hỏi thẳng tác giả Việt Nam Thi nhân Tiền chiến về một số vấn đề học thuật của bộ sách thì ông tác giả này trả lời ú ớ chuyệch choạc, tỏ ra ông không phải là người viết bộ sách đó. Về sau tôi được anh Toản người cùng làm ở nhà in này cho biết Nguyễn Hữu Trọng viết sách còn Nguyễn Tấn Long là chủ nhà in. Do thỏa thuận về mặt tiền nong nào đó nên cả hai quy ước đứng tên chung. Nhà tôi – cô Hoàng Liên có một cô học trò là con gái Nguyễn Hữu Trọng. Cô sinh viên đem tặng cho cô giáo của mình quyển thượng của bộ sách xuất bản lần đầu, có triện son của tác giả và lời trang tặng đầy ân nghĩa cho ông bà ngoại để tỏ lòng tri ân được họ nuôi dạy nên người. Từ đó tôi cứ đinh ninh là nhà giáo Nguyễn Hữu Trọng là tác thật của bộ sách. Thế rồi, bẵng đi một thời gian dài, khi ông Trọng đã mất, những lần Thi nhân Việt Nam Tiền chiến tái bản chỉ còn lại một người đứng tên là Nguyễn Tấn Long. Tôi vào hiệu sách cầm bộ sách trên tay mà ngậm ngùi. Người viết bị truất tên, người không viết có quyền thế tên vào đó vì có tiền, có tiền mua tiên cũng được?

(2)  Ai là dịch giả bài thơ  Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị ?

Bản dịch lưu hành phổ biến bài thơ nổi tiếng Tỳ bà hành được xem là hay nghiêng ngửa với nguyên tác của Bạch Cư Dị là Phan Huy Vịnh thực ra là bản dịch của Phan Huy Thực (chú Phan Huy Vịnh).

(3)  Ai là tác giả của  Nhất sinh đê thủ bái mai hoa ?

Thập tải luân giao cầu cổ kiếm
Nhất sinh đê thủ bái mai
hoa

(Mười năm lặn lội tìm cây kiếm cổ
Một đời chỉ biết lạy hoa mai)

Theo Như Thanh nhật ký năm Mậu Thìn (1868) vua Tự Đức cử đoàn sứ bộ sang triều cống nhà Mãn Thanh : cầm đầu là chánh sứ Lê Tuấn (đỗ Hoàng Giáp năm 1853); phó sứ là Nguyễn Tử Giản  đậu Hoàng Giáp; phó sứ thứ 2 là cử nhân Hoàng Tịnh.        

Hành trình của sứ bộ theo lối xưa từ ải Nam Quan đến Yên Kinh. Sau 125 ngày họ đến huyện thành Hà Dương tỉnh Hồ Bắc, ở đó đoàn Sứ bộ Việt Nam được viên tri phủ Hán Dương là Ngải Tuấn Mỹ đón tiếp và tặng đôi câu đối cho chánh sứ Lê Tuấn :

Hữu khẩu tu ngôn thiên hạ sự     
Kháng hoài bất nhượng cổ chi nhân    

(Có miệng nên nói việc thiên hạ  
Nghị lực không chịu nhường người xưa)       

Câu đối tặng Nguyễn Tử Giản:    

Thập tải luân giao cầu cổ kiếm    
Nhất sinh đê thủ bái mai hoa       


(Mười năm chọn bạn như tìm thanh kiếm cổ
Một đời chỉ biết cúi đầu lạy hoa mai)     

Câu đối tặng Hoàng Tịnh:   

Truyền thần cổ hữu Lý Tư Huấn
Vấn tự kim vô Dương Tử Vân      

(Truyền thần xưa có Lý Tư Huấn          
Hỏi chữ nay không Dương Tử Vân).    

Sự kiện trên được chép trong “Yên thiều bút lục” của Nguyễn Tử Giản (1823-1890) sách viết tay của thư viện khoa học Trung ương, số A.852 tờ 18a-b; Cứ liệu trên đã được các học giả Tảo Trang và Hoa Bằng đưa ra trên tạp chí văn học số 2- Hà Nội năm 1972, trang 61 và 64).

Câu đối “... bái mai hoa” của Ngải Tuấn Mỹ tặng Nguyễn Tử Giản là vào năm 1868, trước đó 14 năm, Cao Bá Quát được đồn thổi là đã hy sinh trong cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương (Giáp Dần 1854)... phải chăng người đời do quá yêu Cao Chu Thần nên cứ thích tương truyền câu “nhất sinh đê thủ bái mai hoa” là của ông như một giai thoại để đời ? Thậm chí  người ta còn “sáng tác” ra cả…thủ  bút của Cao Bá Quát in đầy trên các sách báo và  cả làm câu đối nơi  nhà  thờ  Cao Bá  Quát ở  Phú  Thị (Theo Nguyễn Khôi).        

(4)  Ai là dịch giả của bài Phong Kiều dạ bạc ?

Bài thơ Phong Kiều dạ bạc là một giai thoại kỳ thú tôi đã kể trên báo Văn Nghệ, sau này được đưa vào bộ Giai thoại Nhà văn thế giới. Trương Kế viết khoảng trước năm 754 là một bài thơ rất nổi tiếng và được nhiều người yêu thơ Việt Nam biết đến qua bản dịch :

Đêm đỗ thuyền ở bến Phong Kiều

Trăng tà tiếng quạ kêu sương      
Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ   
Thuyền ai đậu bến Cô Tô   
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.

Dịch phẩm trên toàn bích, rút được cái thần hồn của nguyên tác. Trước đây, Trần Trọng San (1957) và Lý Văn Hùng (1961), Thơ Đường  tập II đều ghi là Tản Đà dịch. Đến năm 2003, nhà Kiều học Nguyễn Quảng Tuân phát hiện ra trong  di sản văn hóa của Đinh Nhật Thận (1841) đỗ Tiến Sĩ thời vua Minh Mạng (bạn của Cao Bá Quát, Nguyễn Hàm Ninh) là tác giả  Thu dạ lữ hoài ngâm. Thời gian Cao Bá Quát bị nạn, Đinh Nhật Thận bị giam lỏng ở Huế... một đêm ngồi trong thư phòng bên bờ sông Hương, ông nhớ đến Trương Kế với bài Phong Kiều dạ bạc... Ông hạ bút:

Đăng tiền độc đối thư trai    
Thương tâm khách địa hữu hoài cố nhân      
Hương thuỷ ngoại hốt văn ngư vận      
Tòng hà lai trạo tấn giang biên    
Bồi hồi nguyệt dạ sương thiên     
Hàn San ám nhận khách thuyền cánh phi.

Đại ý là : Trong phòng văn một mình ngồi trước ngọn đèn, chạnh lòng đất khách, sực nhớ đến người xưa (Trương Kế). Ngoài sông Hương chợt nghe hò mái đẩy của kẻ phường chài từ đâu mà chèo tới bến sông thế nhỉ? Đêm trăng trời sương, lòng luống những bồi hồi, đoán chúng là thuyền khách bên chùa Hàn San (Trương Kế) nhưng đó chỉ là mơ...

Cái độc đáo của Đinh Nhật Thận ở đây là mượn lời thơ của Trương Kế tả cảnh "Nguyệt dạ sương thiên" và thay vào tiếng chuông chùa Hàn San bằng tiếng chuông chùa Diệu Đế (ở Huế) " Dạ văn diệu đế chung thanh không bằng chữ Nôm mà bằng chữ Hán theo thể song thất lục bát. Đây là trường hợp đặc biệt duy nhất trong văn học Việt Nam xưa nay. Chia sẻ với nỗi lòng của bạn, Nguyễn Hàm Ninh đã diễn Nôm Phong Kiều dạ bạc, nguyên gốc là:

Quạ kêu, trăng lặn, trời sương     
Lửa chài le lói, sầu vương giấc hồ        
Thuyền ai đậu bến Cô Tô   
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San
.

So nhiều bản dịch xưa nay thì bản dịch của Nguyễn Hàm Ninh đáng là "tài hoa tột bậc", chỉ tiếc là ông đã để rơi mất chữ "Phong" kèm chữ "Giang" (theo mô típ thơ xưa thì "Phong" là biểu hiện mùa thu, "Phong lạc ngô giang lãnh" - lá phong rụng làm sông Ngô lạnh. "Giang Phong" ở đây cùng với "sương đầy trời" là cảm nhận "khí thu", đồng thời để diễn tả một cách kín đáo nỗi sầu của thi nhân lãng tử. Tuy nhiên, trong một bài thơ 4 câu (dịch) lại có 2 chữ "bến" thì không thể gọi là toàn bích được. (Theo Nguyễn Khôi)

(6) Cho đến tận bây giờ, các sách lịch sứ, truyện, kịch bản sân khấu đều chép chồng bà Trưng Trắc tên là Thi Sách ! Các dịch giả sách Việt sử thông giám cương mục chú rằng “Trong Thủy Kinh chú, quyển 37 tờ 62 chép chồng bà Trưng Trắc là Thi…” Chữ “sách” có nghĩa là: hỏi, dạm, lấy. Sách Hậu Hán thư là văn bản cổ nhất chép thế này, nguyên văn “Con trai lạc tướng Châu Diên là Thi sách (lấy) con gái lạc tướng Mê Linh là Trưng Trắc”. Sự lầm lỗi này cần phải đính chính lại. Ông ấy tên là Thi thôi.

Những cái sai tương tự như thế, ta có thể dẫn ra vô thiên lủng :

Tên tuổi của Lưỡng quốc Trạng Nguyên Mạc Đỉnh Chi, cho đến nay vẫn tồn tại cách viết là Mạc Đĩnh Chi. Đỉnh là cái vạc - tượng trưng cho sự phú quý,  trong câu “Miếng chung đỉnh mất rồi lại có” (Nguyễn Gia Thiều). Chi:  vun bón, chăm sóc, ủng hộ cho cái vạc chứa đầy của cải. Đỉnh chứ không phải là đĩnh (thoi bạc); Chi  (có bộ tài gãy đặt trước chữ chi là cành) không phải chi vật lượng từ trong văn ngôn (Hán cổ), tương đương với chữ đích (tưa âm Bắc Kinh) trong Hán ngữ. Các nhà Hán Nôm Việt Nam cũng viết sai nốt chữ Chi này khi chuyển sang Hán tự.

Lại nữa, tên Nho sĩ Lương Nhữ Hộc được viết thành Lương Như Học chình ình trên bảng hiệu tên đường ở quận Năm. Tên  Ngự sử đời Trần  Đoàn Nhữ Hài viết trên bảng tên đường Đoàn Như Hài ở quận Tư, Tp Hồ Chí Minh là những tên tuổi mà các vị hữu trách cần phải sửa ngay, không nên làm ngơ mãi.

Còn nữa, tên tác giả Truyền kỳ mạn lụcNguyễn Dư, viết sách báo tôi đã đính chính khắp nơi, người ta vẫn cứ ngoan cố chép là Nguyễn Dữ. Nghĩ xem, chẳng ai đặt cho mình cái tên xấu (dữ dằn) như thế cả.

 Một người viết sai, cả nước, đời này qua đời nọ đọc sai là vậy.

 (7  Ai là tác giả  Hỡi cô tát nước bên đàng

Tháng 12-1934 Bàng Bá Lân xuất bản thi phẩm đầu tay  Tiếng thông reo  do Nhà xuất bản Thanh Hoa Tùng Thư ở Hà Nội in, trong đó có bài :

Trăng Quê

Trời cao, mây bạc, trăng tròn
Đê than hiu quạnh, tre buồn nỉ non
Diều ai gọi gió véo von
Cành xoan đùa ánh trăng suông dịu dàng
Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh  trăng vàng đổ đi?

(Tập Tiếng thông reo)

Hai câu kết thần bút của bài Trăng quê ở trên của thi sĩ Bàng Bá Lân, lâu nay đã được dân gian hóa thành ca dao:

Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô lại múc trăng vàng đổ đi
?

(8)  Ai là tác giả  bài ca dao Anh đi anh nhớ quê nhà ?

Anh đi anh nhớ quê nhà

Nhớ canh rau muống nhớ cà giầm tương

Nhớ ai giãi nắng giầm sương

Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao.

Lần ấy (1990), ngồi soạn những tư liệu để viết chương sách về Á Nam Trần Tuấn Khải trong bộ sách Giai thoại Nhà văn Việt Nam  tôi đã phát hiện ra bài ca dao trên là của Á Nam Trần Tuấn Khải.

(9  Ai là tác giả  bài ca dao nổi tiếng ai cũng thuộc lòng Tháp Mười đẹp nhất bông sen ?  - Nước Nam đẹp nhứt có tên Cụ Hồ ? – Là nhà thơ Bảo Định Giang

Vâng, để giữ sự công bằng,  những gì của César nên đem trả lại cho César !

(Theo Bản tác giả gửi NBĐ)
 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email



Những bản tin khác:



Lên đầu trang
Các bản tin mới đăng
Một người anh đáng kính
Trần Vân Hạc: Chùm văn xuôi
Mai An Nguyễn Anh Tuấn: Tưởng nhớ Trần Vân Hạc
Nguyễn Trọng Tạo: MÙA THU NƯỚC NGA VÀNG
Lê Thanh Minh: Hoàng hôn nhớ vẫn đây.
Nhạc sĩ Vinh Sử đã thoát nghèo, mua được nhà hơn 1 tỷ nhờ Bolero
Vĩnh biệt nhà văn Nguyễn Quang Thân!
Nguyễn Quang Thân: Vũ điệu của cái bô (truyện ngắn)
Ngô Thanh Hoàn: BẾN SÔNG QUÊ
Nguyễn Ngọc Kiên: Ngày chủ nhật vắng em
Tin cùng chủ đề
Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh) P1 - Nguyễn Du
Trần Trọng Kim và bộ sách giáo khoa bậc sơ học
Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh) Nguyễn Du
Văn tế thập loại chúng sinh - Nguyễn Du
Bài thơ Cự ngao đới sơn – một dự báo chiến lược thiên tài của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Nguyễn Công Ban, một tác gia của dòng văn Trường Lưu (nhân dịp kỷ niệm 300 năm ngày mất)
Sống chụ son sao - tập đại thành của văn học Thái (Kỳ 1)
Chiều nay sương khói lên khơi...
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá
Cười té ghế hay đau thắt lòng với chữ sửa Truyện Kiều?
 
 
 
Thư viện hình