Tin tức  |  Diễn đàn  |  Thư viện hình  |  Liên hệ
Thứ năm,
21.09.2017 10:58 GMT+7
 
 
Kho bài viết
Tháng Chín 2017
T2T3T4T5T6T7CN
        1 2 3
4 5 6 7 8 9 10
11 12 13 14 15 16 17
18 19 20 21 22 23 24
25 26 27 28 29 30  
 <  > 
Nhận thư điện tử
Email của bạn

Định dạng

Thành viên online
Thành viên: 0
Khách: 4
Số truy cập: 845970
Tin tức > Di sản Văn học > Xem nội dung bản tin
Nguyễn Công Ban, một tác gia của dòng văn Trường Lưu (nhân dịp kỷ niệm 300 năm ngày mất)
[18.06.2012 17:50]
Xem hình
Nguyễn Công Ban, hiệu Lỵ Pháp, thụy Trung Cần, sinh ngày 20 tháng Bảy, năm Canh Ngọ (1630) tại làng Trường Lưu, xã Lai Thạch, huyện La Giang (nay là xã Trường Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh). Dòng họ Nguyễn Huy ở Trường Lưu (NHTL) đến Nguyễn Công Ban là đời thứ 7.
Cha của Nguyễn Công Ban là Nguyễn Như Thạch (1579 - 1662), đỗ Hương giải năm 1602, làm Lang trung bộ Hình, được ban Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, tước là Mỹ Lương tử. Mẹ là người họ Nguyễn. Ông nội là Nguyễn Thừa Hưu đỗ Hiệu sinh, làm Tham tướng thần sự.

Vợ Nguyễn Công Ban là Dương Thị Xa, con gái thứ năm của Dương Trí Trạch (1586 - 1662), người làng Yên Huy (nay là xã Yên Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh), đỗ Tiến sĩ khoa Kỷ Mùi (1619), làm quan đến Lại bộ Thượng thư, Thái bảo, tước Bạt quận công. Mẹ bà Dương Thị Xa là Nguyễn Thị Ngọc Cảnh, con gái thứ 10 của Tể tướng, Quận công Nguyễn Văn Giai (1554 - 1628).

Tiểu sử của Nguyễn Công Ban được con trai trưởng là Nguyễn Công Phác (1649 - 1706), Nho sinh, được tặng phong Đông các Đại học sĩ, tước là Lộc Thọ nam, thay mặt Hội Văn huyện La Giang soạn kỹ ở trong bài trướng mừng nhân dịp Nguyễn Công Ban được vào làm quan tại triều năm Giáp Tuất, niên hiệu Chính Hòa thứ 14 (1693). Bài trướng được Bồi tụng, Tả thị lang bộ Hộ Nguyễn Tiến Tài (1642 - 1698) người xã Nhân Vực, huyện Thanh Chương nay thuộc huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, từng đi sứ nhà Thanh, tước Yên Dũng nam, hiệu đính. Qua đây, ta có thể tin tưởng ở tính chính xác của của các tư liệu và sự kiện trong bài trướng này.

Bài Trướng cho thấy rõ tiểu sử của Nguyễn Công Ban, sinh năm 1630, đi học từ năm lên 6 tuổi (1635) với thầy giáo là Tri huyện Hoàng Trần Sĩ Triêm và người anh họ là Nho sinh Nguyễn Thế Bình. Năm 15 tuổi (1644) ra Bắc học, năm 18 tuổi lấy vợ và thi ở huyện đỗ tứ trường. Năm 19 tuổi vào học ở trường của Quang Lộc tự khanh họ Nguyễn ở Thanh Lâm, Thượng Đáp(1) , lại theo học với người thầy họ Nguyễn, Thị lang bộ Công ở Sơn Đồng, Đan Phượng(2) . Tiếp đến theo học thầy Khương Thế Hiền (1608 - ?) người xã Bình Lạng, huyện Tứ Kỳ nay là xã Bình Lạng, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương, đỗ Thám hoa khoa Canh Dần niên hiệu Khánh Đức thứ 2 (1650) đời Lê Chân Tông, làm quan đến Lại bộ Hữu thị lang, tước tử, sau khi mất được truy tặng chức Lại bộ Tả thị lang và học với Tả thị lang bộ Lại họ Hồ ở Lạc Đạo, Gia Lâm(3). Lại theo học với Dương Cảo (1580 - ?), người xã Hà Lỗ, huyện Đông Ngàn (nay là thôn Hà Lỗ, xã Liên Hà, huyện Đông Anh, Hà Nội), đỗ Hoàng giáp khoa Mậu Thìn niên hiệu Vĩnh Tộ thứ 10 (1628), làm quan đến Tế tửu Quốc Tử Giám và học với thầy họ Nguyễn giữ chức Hiến sát phó sứ ở Đại Toán, Quế Dương(4). Như vậy trong vòng 6 năm từ năm 1649 tới năm 1654 Nguyễn Công Ban theo học với 6 thầy giáo đều nổi tiếng và đỗ đạt cao.
Năm Giáp Ngọ (1654) Nguyễn Công Ban đỗ kỳ thi Hương và bắt đầu bước vào quan trường. Năm Đinh Dậu (1657), ông dự tuyển kỳ thi do vua ra đề, được chọn vào hạng “ưu” và được vua ban thưởng “Thanh tiền”. Năm 1658, ông được thăng chức Hàn lâm Tu soạn. Năm 1665, Nguyễn Công Ban đỗ khoa Sĩ vọng sung vào hàng quan văn và năm sau nhận chức Hiến sát phó sứ. Năm Canh Tuất (1670), ông 41 tuổi, được thăng chức Lang trung bộ Hình, đi kiểm tra thuế ở các phủ huyện: Nghĩa Hưng, Thiên Bảo, Đại An, Ý Yên, Vọng Dinh, đốc thúc đê điều ở các huyện Nam Xương, Phù Dung, Chân Định, làm quan Phúc khảo ở mấy xứ Sơn Nam, Sơn Tây, Kinh Bắc, Phụng Thiên. Năm Giáp Dần (1674), 45 tuổi, Nguyễn Công Ban được thăng chức Tán trị Thừa chính sứ Tham nghị xứ Hưng Hóa. Năm Bính Dần (1686), 57 tuổi, ông được thăng chức Đô tổng binh sứ giữ việc Tổng binh Thiêm sự ở Cao Bằng. Năm Mậu Thìn (1688), 59 tuổi, do lập được nhiều quân công, Nguyễn Công Ban được cử làm Giám hộ, thăng Đồng tri Đô tổng binh. Năm Kỷ Tỵ (1689) đi xem xét định lệ thuế cho dân 4 châu ở Cao Bằng. Năm Nhâm Thân (1692), 63 tuổi, do lập quân công được cử làm làm quan tại triều giữ chức Giám sát ngự sử đạo Lạng Sơn thay mặt triều đình giải quyết công việc.

Năm Quý Dậu (1693), Nguyễn Công Ban  xin về quê trí sĩ, được phong tước Thái Sơn nam (trước đó đã được phong tước Quế Lâm tử). Nguyễn Công Ban được về quê trí sĩ từ năm 1694, dạy dỗ con cháu và mất ngày mồng Một tháng Mười Hai năm Tân Mùi (1711), thọ 82 tuổi, phần mộ táng ở Mạc Sơn thuộc địa phận xã Trường Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh.

Nguyễn Công Ban lớn lên vào thời mà nhà Lê Trịnh đã lấy lại kinh thành Thăng Long, việc học hành phát triển ở vùng Kinh Bắc, giai đoạn ông ra làm quan, cũng là thời gian cuộc chiến Lê - Mạc gần đi vào giai đoạn cuối, và ông tham gia cuộc chiến này với tư cách là võ quan, lập nhiều công trạng. Chắc chắn ông được sự hỗ trợ của bố vợ là Quận công Dương Trí Trạch.
Nhà thờ Nguyễn Công Ban thường gọi là nhà thờ Đại tông họ Nguyễn Huy, ở trung tâm xã Trường Lộc hiện nay, giữa trụ sở Ủy ban nhân dân xã và đình làng, nơi đó trước đây thuộc núi Bình Cương, chưa rõ dựng từ lúc nào, trong Di tích danh thắng Hà Tĩnh và Địa chí huyện Can Lộc có ghi tên nhà thờ Nguyễn Công Ban. Do Đền Thư viện thờ Nguyễn Huy Oánh không còn, chính quyền địa phương cùng con cháu trong dòng họ đã đề nghị và được các cơ quan chức năng chấp nhận, lấy nhà thờ Nguyễn Công Ban để xếp hạng di tích gắn với chắt của ông là Danh nhân văn hóa Nguyễn Huy Oánh, năm 2006.

Nguyễn Công Ban  lấy vợ năm 19 tuổi và có 3 người con trai đều thành đạt là:

1. Con trưởng là Nguyễn Công Phác (1649 - 1706), Nho sinh, được tặng phong là Đông các Đại học sĩ, Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, tước là Lộc Thọ nam, thờ chung ở nhà thờ Nguyễn Công Ban. Nay con cháu thuộc hai chi họ, chi Nguyễn Công Xuân thờ cúng ở nhà thờ Nguyễn Công Ban và họ Lục chi từ Nguyễn Huy Tựu. Nguyễn Công Phác cũng là một tác gia dòng văn họ NHTL.

2. Con thứ 2 là Nguyễn Công Chất đỗ đầu kỳ thi Hương năm Ất Mão (1675), làm Tri huyện Thạch Hà, sau chuyển lên làng Cảnh, nay có nhà thờ và chi họ ở làng Cảnh, xã Phú Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Một số con cháu sau chuyển xuống làng Mật xã Kim Lộc và về lại Trường Lưu, ở các nơi này cũng thành các chi họ và có nhà thờ riêng.

3. Con thứ 3 là Nguyễn Công Trân làm Tri châu Bố chánh, sau chuyển  tới làng Phúc Lộc, cùng xã Lai Thạch thời xưa, nay thuộc xã Song Lộc, hiện có nhà thờ và chi họ ở làng Phúc Lộc xã Song Lộc.

Nguyễn Công Ban có 5 con gái, người thứ 3 là Nguyễn Thị Hộ được phong Thần, thường gọi là Đức Bà, hiệu là Phù hiển đệ nhất tiên thai quý nhân. Bà thứ 5 là Nguyễn Thị Thiền do bà vợ thứ là Vũ Thị Thịnh sinh.

Qua tiểu sử và bài trướng ta có thể nói Nguyễn Công Ban đã kế thừa truyền thống văn hóa các thế hệ trước của họ NHTLvà bằng cuộc đời học hành thi cử làm quan của mình thể hiện rõ các truyền thống của dòng họ mà các con cháu ông sau này giữ vững và phát huy.


Một tấm gương tu học và dạy học

Sinh trưởng trong một gia đình nội ngoại đều có nhiều người học hành thi đỗ, ông nội đỗ Hiệu sinh, cha đỗ Hương giải năm 1602, bác là Nguyễn Đôn Hậu cũng đỗ Hương giải năm 1580, từ bé cho tới năm 25 tuổi, Nguyễn Công Ban  đã thụ nghiệp với các thầy giáo rất nổi tiếng ở ngoài Bắc. Trong số 8 thầy giáo mà Nguyễn Công Ban theo học chỉ có 2 người đầu tiên là người thân trong họ, một người là Nho sinh Nguyễn Thế Bình, và một người là Tri huyện (trong gia phả chi họ Nguyễn Huy ở làng Nguyễn Xá, có ghi bà Nguyễn Thị Kiện, thuộc đời thứ 7 lấy chồng là Trần Sĩ Tiên, người xã Đậu Liêu, nay là Thị xã Hồng Lĩnh, làm Tri huyện, không rõ có phải ông này không?), còn lại đều là những thầy giáo nổi tiếng thời bấy giờ là những người đỗ đạt cao Hoàng giáp, Thám hoa, làm quan lớn trong triều như Thị lang, Quốc Tử Giám Tế tửu,v.v… Sau khi đỗ kỳ thi Hương, Nguyễn Công Ban bước vào quan trường, từng dự thi hội nhưng chỉ đỗ Tam trường, không đỗ tiến sĩ, tuy vậy ông đã dự thi và đỗ ở các kỳ thi dành cho quan lại như các khoa Sĩ vọng, Hoành từ.

Hiện nay chưa có tài liệu nào nói rõ quá trình hoạt động của Nguyễn Công Ban  trong khoảng 17 năm, từ năm về trí sĩ 1694 cho tới năm mất 1711. Qua bài thơ của Tiến sĩ khoa Nhâm Thìn (1772) Nguyễn Huy Quýnh, người gọi Nguyễn Công Ban  là tằng tổ, họa bài thơ của anh là Thám hoa Nguyễn Huy Oánh làm lúc về trí sĩ năm 1779, có nói rõ là trong sự thành đạt của con cháu họ Nguyễn Huy thời bấy giờ (anh em cùng đỗ tiến sĩ, cha con, anh em cùng làm quan đồng triều) là nhờ ở công ơn của Nguyễn Công Ban. Chắc chắn Nguyễn Công Ban  đã dạy học khá lâu cho con cháu trong họ và trong làng. Hai cháu nội của ông là Nguyễn Công Xuân (1688 - ?) và Nguyễn Huy Tựu (1690 - 1750) đều đỗ Hiệu sinh và Hương cống, khi bé và lúc đến tuổi đi học cũng là lúc Nguyễn Công Ban về trí sĩ, chắc chắn đã được ông dạy dỗ. Xem lại phả hệ họ Nguyễn Huy trước thời Nguyễn Huy Oánh, ta chỉ thấy người có thời gian sống lâu ở Trường Lưu và học hành đỗ đạt là Nguyễn Công Ban, 17 năm từ 1694 đến 1711, (cha Nguyễn Huy Oánh là Nguyễn Huy Tựu mất lúc còn làm quan chưa nghỉ hưu, ông Nguyễn Huy Oánh là Nguyễn Công Phác mất năm 57 tuổi, cả 2 ông đều ít có thời gian ở lâu tại Trường Lưu). Như vậy ta thấy có khả năng Nguyễn Công Ban là người đã đóng góp nhiều cho sự phát triển của làng Trường Lưu và cho con cháu họ NHTL.

 Một vị quan cần mẫn, thanh liêm

Suốt hơn 40 năm lăn lộn trong chốn quan trường (1654 - 1694), Nguyễn Công Ban  luôn tỏ ra là một vị quan tận tụy với công việc, thanh liêm trong cuộc sống. Giai đoạn mà Nguyễn Công Ban làm quan là lúc mà cuộc chiến tranh Lê - Mạc còn tiếp diễn, tình hình đất nước còn nhiều rối ren. Ở cương vị nào, Nguyễn Công Ban cũng luôn mẫn cán với việc công và nhờ vậy ông thăng tiến khá nhanh. Bài trướng của Nguyễn Công Phác nêu rõ: “xe đi đến đâu, dân chạy theo đón mừng đến đó”, “làm việc công tâm và cần mẫn”, “lúc làm việc trong triều thì tỏ thái độ chính trực, mà giữ được điều êm ả trong nhiều năm”. Ông giữ chức Lang trung bộ Hình thì “xét việc ngục thanh bình, theo gương của Tô Công”, kiểm tra thuế lệ thì “đã thể hiện được chính đức của vua và vui lòng dân trong các xóm ngõ”, làm quan phúc khảo thì “chọn được những kẻ sĩ có tài”, làm phó tướng thì “việc quân không có sơ hở”, làm Tán nghị Thừa chính sứ Tham nghị thì “nổi tiếng là ông quan cần kiệm, chính sự tốt vào bậc nhất”, vâng lệnh đi khám xét để miễn giảm thuế thì “dân được nhờ ơn thích đáng”, vâng làm Giám hộ thì “chỉ biết cung ứng đủ việc công, không cần sự tích lũy riêng”, làm Giám sát ngự sử đạo Lạng Sơn thay triều đình ứng các việc thì “nổi tiếng cương trực”. Nguyễn Công Ban làm quan đến hàm Tam phẩm trước lúc về Trí sĩ.



Ngày nay, trong làng Trường Lưu, dân gian còn lưu truyền câu chuyện về Nguyễn Công Ban như sau: Khi đánh nhau với nhà Mạc ở Cao Bằng, gặp lúc tướng sĩ tử trận, ông đã cho thu nhập hài cốt lại, cho vào các rương hòm cẩn thận, lúc lui quân về xuôi, ông cho chở theo về. Một số quan lại trong triều nghi ông chuyên chở vàng bạc và các đồ lấy được của nhà Mạc đã làm đơn tố cáo với nhà vua. Nguyễn Công Ban  có làm bài thơ để trả lời về việc này (bài thơ này chưa tìm được, trước đây tôi có nghe đọc qua một đôi câu). Sau khi cho người tra xét cẩn thận, biết rõ đây là xương cốt của binh lính tử trận và đã được Nguyễn Công Ban cho mang về tận quê của họ. Ông còn tâu xin nhà vua ban thưởng cho thân nhân họ. Vì vậy mà sau này con cháu ông được thành đạt có phần chính là nhờ ở âm đức của việc này. Nguyễn Công Ban là người đầu tiên xây dựng ruộng hương hỏa của họ NHTL (theo Hương hỏa điền bi kí của Nguyễn Huy Oánh).

Thơ của Nguyễn Công Ban.

Hiện tại chúng tôi mới tìm được bài Trí sĩ tạ triều đường thi - bài thơ Nguyễn Công Ban làm tạ triều đình năm 1694 khi ông về trí sĩ (theo lệ bấy giờ quan Tam phẩm trở xuống khi về trí sĩ được triều đình tặng một bài thơ, và người được tặng có thể làm thơ tạ ơn triều đình, bài tặng của triều đình cho Nguyễn Công Ban chưa tìm ra). Bài thơ trên được chép lại trong sách Nguyễn thị gia tàng.

                   TRÍ SĨ TẠ TRIỀU ĐƯỜNG THI
Phiên âm:

Lịch sĩ tằng du tứ thập niên,
Miễn đôn thần tiết thủy chung tuyền.
Nội tòng đan bệ đồ sung vị,
Ngoại nhị thanh phiên thứ tĩnh biên.
Trạc dụng tịnh đồng mông đại đức,
Thanh nhàn đắc tạ hiệu tiền hiền.
Tại triều đa bật sư chi tích,
Lạc thái bình thời phúc hưởng thiên.

                        [Theo Nguyễn Thị gia tàng]

Dịch nghĩa:

THƠ CẢM TẠ TRIỀU ĐÌNH KHI VỀ TRÍ SĨ(1)
Trải quan trường, ở chức hơn 40 năm,
Dốc sức giữ trọn khí tiết kẻ bề tôi, trước sau như nhất.
Khi ở trong triều theo hầu trước bệ rồng cho đủ hàng quan,
Khi ra làm quan ngoài có giúp phần tảo trừ phỉ tặc, giữ yên bờ cõi.
Được tin dùng, cất nhắc đều là đội ơn đức lớn,
Giờ nhàn nhã, tĩnh tại, tạ ân mà làm theo các tiên hiền.
Cũng từng được nhiều bậc thầy trong triều chỉ giáo,
Trong thời thái bình, ta vui hưởng tuổi trời.

                            LẠI VĂN HÙNG dịch
Dịch thơ:

Bốn mươi năm lẻ trải đường quan,
Khí tiết bề tôi gắng vẹn toàn.
Trên điện hết lòng lo phận sự,
Ngoài biên thêm sức định dân an.
Ghi ân thánh chúa khi đề bạt,
Noi dấu hiền nhân lúc được nhàn.
Thầy bạn trong triều thường chỉ giáo,
Phúc trời vui hưởng cảnh yên hàn.

                            NHẤT PHÀM
Chú thích:

(1)    Đầu đề bài thơ do chúng tôi đặt. Nguyên dẫn: “Chính Hòa thập ngũ niên tuế tại Giáp Tuất viện lệ trí sĩ tạ triều đường thi” (Bài thơ tạ triều đình nhân viện lệ về trí sĩ năm Giáp Tuất, niên hiệu Chính Hòa thứ 15 (1694)).
Theo lời truyền thì ông còn có bài thơ kể rõ với triều đình chuyện mình mang hài cốt của binh lính sau khi đánh trận ở Cao Bằng về, để giải thích việc trong triều có người vu cáo ông đã mang vàng bạc lấy của nhà Mạc sau chiến trận. Bài thơ vẫn chưa tìm thấy. Nhưng với bài thơ trên đã được sưu tầm công bố, có thể nói Nguyễn Công Ban là một tác gia, bởi lẽ đối với các tác gia cổ trung đại thì việc tìm ra một bài thơ cũng đã là quý. Phần tiếp giới thiệu hai tờ sắc cho Nguyễn Công Ban.

TỜ SẮC CHO NGUYỄN CÔNG BAN (1)

Phiên âm:

    Sắc:
    Trung Trinh đại phu, Cao Bình Đô tổng binh sứ ti Tổng binh Thiêm sự, Khuông Mĩ Doãn Trung tự Nguyễn Công Ban.
    Vị: phụng sai giám hộ, năng quy liệu, công phá tặc đồ hữu công. Phụng Khâm sai tiết chế các xứ thủy bộ chư doanh kiêm Chưởng chính quyền Thái úy Tấn quốc công Trịnh Bính; cung phụng Đại nguyên soái thống quốc chính thượng thánh phụ sư, thịnh công nhân minh uy đức Định vương chỉ chuẩn, hữu triều thần thiêm nghị, ưng thăng nhậm Tổng binh, Đồng tri chức; khả vi Gia Hạnh đại phu, Cao Bình Đô tổng binh sứ ti Tổng binh đồng tri, Tư Chính khanh trung ban. Cố sắc.

    Chính Hòa cửu niên thập nhị nguyệt sơ lục nhật.

Dịch nghĩa:

    Sắc cho:

    Nguyễn Công Ban, Khuông Mĩ Doãn Trung tự, Trung Trinh đại phu, Thiêm sự Tổng binh ti Đô tổng binh sứ Cao Bằng.

    Vì: vâng sai làm Giám hộ, khéo léo trù liệu, đánh phá bọn giặc có công. Cung kính vâng chỉ chuẩn của Khâm sai tiết chế các xứ thủy bộ chư doanh kiêm Chưởng chính quyền Thái úy Tấn quốc công Trịnh Bính và Đại nguyên soái thống quốc chính thượng thánh phụ sư, thịnh công nhân minh uy đức Định vương, lại có triều thần góp bàn, ưng cho thăng nhậm chức Đồng tri Tổng binh. Nay xứng đáng nhận chức Gia Hạnh đại phu, Đồng tri Tổng binh ti Đô tổng binh sứ Cao Bằng, Tư Chính Khanh, Trung ban.
    Vì vậy ban sắc.

    Ngày 6 tháng 12 năm Chính Hòa thứ 9 (1689).


TỜ SẮC CHO NGUYỄN CÔNG BAN (2)

Phiên âm:

    Sắc:

    Gia Hạnh đại phu, Đô tổng binh sứ ti Tổng binh, Đồng tri Tư Chính khanh, trung ban, Nguyễn Công Ban.

    Vị: hữu học hạnh, xuân thí lũy trúng tam trường, tái trúng Sĩ vọng, Phụng sai Cao Bằng giám hộ, năng quy liệu sai hành thông đông, cối đắc ngụy Mạc tính ngụy thủ hạ cập đồ đảng điều nạp, hữu công. Phụng Khâm sai tiết chế các xứ thủy bộ chư doanh kiêm Chưởng chính quyền Thái úy Tấn quốc công Trịnh Bính; cung phụng Đại nguyên soái thống quốc chính thượng thánh phụ sư, thịnh công nhân minh uy đức Định vương chỉ chuẩn, hữu triều thần thiêm nghị, ưng thăng Giám sát ngự sử chức, Tiến triều ứng vụ; khả vi Cẩn sự lang, Lạng Sơn đạo Giám sát ngự sử, hạ liên.

    Cố sắc.

    Chính Hòa thập tam niên tứ nguyệt nhị thập cửu nhật.

Dịch nghĩa:

    Sắc cho:

    Nguyễn Công Ban, Đồng tri Tư Chính khanh, trung ban, chức Tổng binh ti Đô tổng binh sứ, ban Gia Hạnh đại phu.

    Vì: có học hạnh, nhiều lần đi thi Hội trúng tam trường, lại trúng Sĩ vọng, vâng làm Giám hộ Cao Bằng, khéo léo trù liệu, khiến thông được đường sang Đông, bắt được giặc Mạc(1) kèm thủ hạ và đồ đảng của giặc, giải về giao nộp, có công. Cung kính vâng chỉ chuẩn của Khâm sai tiết chế các xứ thủy bộ chư doanh kiêm Chưởng chính quyền Thái úy Tấn quốc công Trịnh Bính(2) và Đại nguyên soái thống quốc chính thượng thánh phụ sư, thịnh công nhân minh uy đức Định vương(3), lại có triều thần góp bàn, ưng cho thăng chức Giám sát ngự sử, Tiến triều để làm việc, nay xứng đáng được ban chức Cẩn sự lang, Giám sát ngự sử đạo Lạng Sơn, hạ liên.
    Vì vậy ban sắc.

    Ngày 29 tháng 4 năm Chính Hòa thứ 13 (1693).

Chú thích:

    (1) Chỉ tàn dư của nhà Mạc ở Cao Bằng. Mãi đến năm 1697, nhà Lê Trịnh mới xóa sổ được hoàn toàn nhà Mạc.
    (2) Trịnh Bính: cháu nội của Trịnh Căn, cha của Trịnh Cương.
    (3) Định vương: Trịnh Căn, lên ngôi (1682-1709) ở ngôi chúa được 28 năm.
    (4)    Chưa rõ tiểu sử, nay là thôn Thượng Đáp, xã Nam Hồng, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
    (5)    Chưa rõ tiểu sử, nay là  thôn Sơn Đồng, xã Sơn Đồng, huyện Hoài Đức, Hà Nội .
   (6)    Chưa rõ tiểu sử, nay là xã Lạc Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
   (7)    Chưa rõ tiểu sử, nay là huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.




Nguyễn Huy Mỹ
 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email



Những bản tin khác:



Lên đầu trang
Các bản tin mới đăng
NHỮNG BÀI HỌC TỪ NƯỚC NGA - Họa sĩ Lê Thanh Minh
VĨNH BIỆT NHÀ THƠ VÕ THANH AN
Chử Thu Hằng: “CÓ PHẢI EM LÀ MÙA THU HÀ NỘI” - tản văn
Vương Cường: Chùm thơ Tình yêu và Đồng đội
VĨNH BIỆT NHÀ THƠ HOÀNG AN
Tân chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội: tôn trọng sự khác biệt
Nguyễn Khánh; Nhân sự nóng từ đầu đến cuối ở ĐH Hội Nhà văn Hà Nội
Đặng Xuân Xuyến: Chùm thơ tình
Chùm thơ thứ 3 của Lê Thanh Hùng (Bình Thuận)
Nguyễn Trọng Tạo: Bạn tóc xoăn
Tin cùng chủ đề
Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh) P1 - Nguyễn Du
Trần Trọng Kim và bộ sách giáo khoa bậc sơ học
Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh) Nguyễn Du
Văn tế thập loại chúng sinh - Nguyễn Du
Bài thơ Cự ngao đới sơn – một dự báo chiến lược thiên tài của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Sống chụ son sao - tập đại thành của văn học Thái (Kỳ 1)
Cười té ghế hay đau thắt lòng với chữ sửa Truyện Kiều?
Chiều nay sương khói lên khơi...
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá
Thiếu Khanh: Giới thiệu bài thơ Tiểu Chước của Cao Bá Quát
 
 
 
Thư viện hình