>>> Nhật kí Kadan (Phần 3)
Ngày 1/6
Theo lời hứa của lãnh đạo Xờmu 2 đến tháng này chúng tôi được nâng bậc 2, hết giai đoạn học nghề. Vậy mà chả thấy ai nói gì cả. Đi học nghề thực chất là làm nghề, bị quát tháo nhục nhã, ai ngờ lương lại thấp hơn cả thời học tiếng. Chúng tôi chất vấn tây ta. Thì được hứa đến tháng 7 sẽ được thi tay nghề. Làm nghề lương mới cao.
Tiên sư chúng nó, toàn hứa hão.
Ngày 14/7
Đang sơn trát thì có lệnh xuống sân họp. Hôm nay có giám đốc và kĩ sư trưởng Xờmu 2 đến dự. Họp toàn thể. Cứ 2 cu li cộng có 1 giáo sư tây ngồi kèm. Thì ra hôm nay giám đốc họp để bình xét chất lượng học nghề. Ai học tốt thì đến ngày 30/7 mới được dự thi nâng bậc.
Giám đốc hỏi từng người, giáo sư đứng lên nhận xét. Kết quả học tập phụ thuộc hoàn toàn vào sự hài lòng hay không của giáo sư qua hơn 3 tháng dày công kèm cặp. Các thiếu tá, đại uý, trung uý cộng mặt mày tái mét, ngơ ngơ ngác ngác trước kiểu thi và kì thi mang tính lịch sử này.
Trong số giáo sư, có nhiều vị, rất tiếc cũng đang trong thời kì học nghề.
Thấy cảnh nhục nhã quá, bất công quá, có người đứng lên kêu gọi tẩy chay. Nhiều tiếng phản đối hưởng ứng. Thế là cuộc thi rối tung cả lên.
Buổi tối tôi ghi vào sổ nghe thấy mẩu chuyện nhan đề: Chúng tôi học nghề như thế đấy.
Chúng tôi gồm 250 người Việt Nam, phần lớn là sĩ quan, có một số người có hàm thiếu tá, đại uý, hiện đang học nghề sơn trát ở các Xờmu thuộc KĐCK (Liên hợp xây dựng nhà ở Kadan). Công việc học nghề của chúng tôi như thế nào?
Mỗi tổ lao động có 9 người Liên Xô và 18 người Việt Nam, tỉ lệ một kèm hai. Một làm gì thì hai làm ấy và hai kiêm đầu sai luôn. Đốc thúc một ngày không ngơi tay. Suốt ngày chúng tôi chỉ nghe toàn động từ thức mệnh lệnh với sắc giọng gay gắt, mắng mỏ. Nhiều người hàng tháng liền chỉ học việc quét dọn đất cát. Công việc ấy phức tạp đến nỗi bị đội trưởng mắng như mắng chó. Ban đầu họ hứa sau 2 tháng học nghề sẽ xếp bậc 2 làm thợ chính thức. Ai cũng cố gắng học xoa trát và quét dọn hùng hục để đẹp lòng người kèm cặp. Hai tháng học qua đi chả ai nói đến việc nâng bậc cả. Hỏi thì được giải thích là cần phải học 2 tháng nữa. Ta đấu tranh đòi thi tay nghề, thì họ cười nhạt bảo: Muốn thi thì được thôi. Quả thật nếu có thi thì có lẽ 100% trượt. Chúng tôi chỉ biết có xoa trát và dọn đất chứ việc hoà vữa thế nào, dán giấy bồi tường thế nào ... thì nàođãđược học. Mà đòi học thì giáo sư lại chỉ có xoa trát với dọn đất thôi. Đó là 2 việc mệt nhất, bẩn nhất, đơn giản nhất trên công trường và không cần học cũng làm tốt. Đành lòng chờ sự thương hại xếp nghề vậy. Bao giờ họ thích thì họ xếp. Nghe đâu theo hiệp định hợp tác thì thời gian học nghề dài tới 9 tháng cơ.
Thôi, cứ tích cực học cho giỏi nghề quét dọn, sau này về nước chắc chẳng có ai có được trình độ quét dọn cỡ đi tây như mình. Có khi được bổ làm giáo sư quét dọn ở trường đại học nào đó cũng nên. Nếu lại được làm Bộ trưởng Bộ quét dọn thì biết tay.
Ngày 30/7
Hôm nay đội trưởng Phaia chính thức thông báo chúng tôi sẽ thi tay nghề. Các giáo sư sốt sắng hoà vữa nhiều, kê ghế sẵn, tạo điều kiện cho chúng tôi thi đạt kết quả cao nhất. Tôi và Hải được giao làm gian bếp.
Hải là tay to khoẻ, trẻ tuổi hơn tôi, ngày thường lười học, chuyên đi vật nhau với các giáo sư Rôda và Xanhia. Hôm nay Hải biết điều thi hùng hục như trâu húc mả. Trong khi chờ ông phó tổng giám đốc KĐCK đến kiểm tra chất lượng công việc, chúng tôi càng cố tranh thủ thời gian cật lực xoa trát cho được nhiều việc hơn. Thỉnh thoảng Xanhia lại đến kiểm tra Hải: úi giời, nhanh quá hỉ, hoặc Hôm nay làm khoẻ quá, nhanh quá, đẹp quá hỉ. Hải tức lộn ruột mà đành làm thinh, mải miết xoa trát. Cứ như mọi bữa chắc Hảiđãquăng bàn xoa, ôm Xanhia vật ra giữa nhà rồi. Mồ hôi ai nấy đổ ròng ròng mà không dám nghỉ. Yếu như anh Hoằng, lười như anh Vượng cũng chả thấy ngơi tay. Một giờ hăng say bằng cả ngày tích cực. Một buổi hăng say bằng những 4 ngày tích cực. Có lẽ chúng tôi làm bằng thợ bậc 4 chứ không kém.
Rồi ông phó tổng đến. Chúng tôi được lệnh nghỉ tay để thi lí thuyết. Chà, chúng tôi chỉ giỏi quét dọn, khá xoa trát chứ có ai dạy lí thuyết đâu mà thi lí thuyết. Vẫn cứ thi lí thuyết. Ông phó tổng hỏi từng người, đại khái dụng cụ trát trần gồm những thứ gì, dụng cụ sơn tường gồm những thứ gì, tại sao tường bê tông vẫn phải xoa trát ... Chúng tôi muốn nói gì thì nói, hoặc hát cũng được, cốt có mở miệng để anh Định phiên dịch dịch, tức là trả lời hộ. Anh Định chả bao giờ ra công trường, là phiên dịch nhưng nói tiếng Nga chưa sõi, vậy mà trả lời rất hoàn hảo. Hình như anh đã tốt nghiệp đại học xây dựng hoặc anh đã học phần lí thuyết thay tất cả chúng tôi rồi vậy.
Đến lượt tôi ông phó tổng hỏi:
- Tại sao phải xoa tường?
Tôi trả lời nghiêm túc:
- Vì tường bê tông làm chưa nhẵn, có nhiều lỗ thủng do sơ suất hoặc do các công việc khác cần như thế do đó phải xoa trát cho nhẵn, phẳng, đẹp để dán giấy bồi dễ hơn, hoàn mĩ hơn.
Anh Định dịch độc một câu: Để dán giấy. Đã bảo là tôi nói tiếng Nga khá mà. Anh Định dịch thế nào tôi biết hết.
Ông phó tổng hỏi cho có hỏi hết lượt thì kí giấy công bố chúng tôi đã đỗ bậc 2. Đỗ 100%. Ông còn căn dặn chúng tôi cần chấp hành tốt kỉ luật lao động. Còn phần thực hành cốt yếu ông không hỏi, không xem xét gì cả.
Học kiểu tây, thi kiểu tây như thế đấy.
Ngày 1/8
Bắt đầu từ ngày hôm nay tôi chính thức trở thành người công nhân xây dựng thực thụ với tay nghề bậc 2. Trèo lên đến đỉnh quang vinh rồi, bây giờ tôi mới có dịp quan sát lại mình và cuộc sống quanh mình một chút.
Cho đến nay tôi vẫn còn là Khuất Nguyên. Cả căn hộ tôi cũng còn là Khuất Nguyên cả. Mọi người gọi căn hộ 27 là căn hộ toàn tòng. Anh Xuân, người được thầy tử vi chỉ ra cái gồ tay cao, tướng máu gái, ấy vậy mà anh lại nghiêm như thường. Chúng tôi đùa nhau làm bản thành tích đề nghị vợ tặng huy chương 6 tháng đầu năm trong sạch vững mạnh.
Riêng tôi, ngay từ thuở đôi mươi đến nay chưa bao giờ trong tôi chợt có ý nghĩ lợi dụng người khác và tình yêu thương vợ con càng ngày càng sâu đậm. Có lẽ 6 năm tới tôi đều đáng nhận huy chương của vợ cả. Tuy nhiên, thú thật đôi lúc tôi đã bắt đầu có ý nghĩ đi tìm hương vị lạ nhưng ngay sau đấy tình cảm vợ chồng bên nhau hạnh phúc trước đó đã đè bẹp cái ý nghĩ sa đoạ kia.
Nhưng cuộc sống sa đoạ vẫn trôi đi ngày một nhầy nhụa hơn nơi đất khách. Sự chung chạ trở nên công nhiên. Tình cảm của những cặp này nồng nàn thắm thiết đến độ kịch phát. Ai cũng phải thừa nhận rằng tình cảm của họ mạnh hơn nhiều so với tình cảm của những cặp vợ chồng trong đêm tân hôn. Với họ, đêm nào cũng là đêm tân hôn nồng nhiệt.
Những cô gái chưa chồng kia sẽ nghĩ gì khi sau này sống với người chồng thật của mình.
Những cô gái đã có chồng kia suy nghĩ gì về chồng con ở nhà, sẽ nói gì với chồng con sau này khi về nhà.
Ôi, cái giá quá đắt của những ông chồng hám của cho vợ đi tây. Họ được gì mất gì nếu như họ chứng kiến những cặp vợ chồng đêm nào cũng là đêm tân hôn kia. Ôi, độc ác thay cái hiệp định lao động hợp tác. Thà vợ chồng con cái ở quê nhịn đói còn hơn để cho vợ đi tây. Thà bố mẹ, anh chị em nhịn đói còn hơn để cho những đứa con gái phải đi tây. Tôi chợt nhớ truyện ngắn “Thế là mợ nó đi tây” của Nguyễn Công Hoan. Tôi chợt nhớ câu nói của nhân vật Mari trong tiểu thuyết Đống rác cũ tự an ủi nỗi căm giận chính mình: Có mòn đâu mà tiếc.
Thứ tình yêu kia cộng gọi là tình yêu hợp tác.
Cái tiếng gái đi tây thật chẳng oan tí nào.
Mỗi lần tôi định yêu hợp tác cô nào tôi đều liên tưởng rằng giả sử đây là vợ mình mà để người khác ôm ấp thế này thì mình có chịu được không. Thế là cái ý nghĩ định đưa tôi xuống bùn tự dưng bay đi mất. Và tôi nhìn những cô gái yêu hợp tác kia với cái nhìn căm giận thay chồng con họ ở nhà.
Nhưng cuộc đấu tranh diễn ra trong tôi vô cùng gay gắt, chẳng kém gì cuộc đấu tranh ai thắng ai chứ chẳng dễ dàng gì đâu. Vì ở Kadan này lại có người thích mình mới chết chứ. Hoặc đơn giản hơn, chỉ cần bỏ ra vài rúp là biết mùi tây hẳn hoi.
Có lẽ cái huy chương trong sạch vững mạnh của vợ kia phấn đấu còn khó khăn hơn mọi thứ cần phấn đấu trên đời này.
Ngày 2/8
Anh Phong kể cho một câu chuyện về tâm sự của bạn gái đồng hương ở ốp Hà Bắc. Tôi liền ghi vào sổ nghe thấy, nhan đề: Không ngờ.
H. trong một lần chơi bóng bàn có nói với tôi:
- Anh Phong à, em không ngờ ở bên này nhu cầu tình cảm lớn thế. Hồi ở nhà thì bận bịu việc nhà, con cái, lại bị anh ấy quấy rầy, sao mà cảm thấy mệt người thế. Còn bây giờ đi làm về người cứ như thừa ra. Nhớ anh ấy ghê lắm. Nhu cầu tình cảm trở thành khao khát không chịu nổi. Môi trường sống lại không lên án chuyện quan hệ, thậm chí còn vun vào thêm, anh bảo, chúng em làm sao chịu đựng nổi.
- Thế không sợ chồng ở nhà biết à?
- Sợ thì vẫn sợ. Nhưng chồng thì giúp gì được lúc này. Thực tế cuộc sống mà. Anh ấy phải thông cảm và chấp nhận chứ. Nếu không thì thây kệ, muốn ra sao thì ra. Mới lại anh ấy ở tận đẩu đâu thì biết đâu ma đau mắt.
- Thế ra ông ăn chả bà ăn nem à?
- Không hẳn là thế. Vì ở bên này tất cả đều thế. Cặp bồ để làm ăn thôi mà anh.
Tôi suy nghĩ mãi về tâm sự của cô H. kia. Tôi chép lại chuyện này để người ở nhà suy nghĩ, đau xót, tha thứ hay thế nào thì tuỳ.
Còn cô H. thật thà kia có thể còn kiên trì gìn vàng giữ ngọc được mấy ngày nữa đây.
Ngày 3/8
Đêm qua trằn trọc quá đáng vì nhớ vợ. Khi mơ màng ngủ thì gặp vợ thật. Tôi ghi vào sổ nghe nhìn cái cảm giác gặp vợ ấy nhan đề Nỗi nhớ.
Anh Đặng Vương Hưng có bài thơ về nỗi nhớ khá ấn tượng, nhưng mức nhớ chưa thấm gì so với nỗi nhớ của tôi. Cái nhớ của anh lính dù sao cũng 1 năm vài lần hoặc chí ít 1 lần về thăm nhà. Còn cái nhớ của tôi là Biền biệt, Không ít đêm chính tôi phải cảm thấy xấu hổ khi trải qua cảm giác như mộng du vậy.
Có khi đang đêm tỉnh dậy không biết nằm ở đâu. Cứ nghĩ đang nằm ở nhà, mà sao không thấy vợ đâu. Lờ mờ nhớ mình đang ở Liên Xô làm chuyên gia sơn trát, mà sao không thấy “pidờđa” đâu. Định thần mãi vẫn không nhận ra nơi nào, đơn vị quân đội quen thuộc nhất cũng không phải, mà lại hình như đang nằm cùng vợ.
Có khi đang đêm choàng dậy, quyết đẩy cửa buồng vào với vợ, muốn ra sao thì ra, lí gì mà vợ chồng phải cách li nhau. Xăm xăm đi vài bước chả thấy vợ đâu chỉ thấy anh bạn cùng phòng giường bên đang yên giấc. Mặt say rượu với chính mình.
Chiến có biết nỗi nhớ của anh không.
Chiến có trải qua cảm giác như vậy không.
Ôi, ở cuối thế kỉ 20 tại một nước tự xưng nhân quyền, văn minh, tiến bộ nhất thế giới mà không những bóc lột tàn tệ sức lực anh em vô sản thế giới, lại còn bóc lột tàn tệ cả tình cảm của con người nữa.
Chả trách người ta cặp bồ để làm ăn. Sống sa đoạ nhưng vẫn dưới chiêu bài làm ăn, cái lí chồng đẩy vợ đi tây.
Còn ta, âu là cứ sống trong ảo mộng với vợ vậy. Cũng ngọt ngào đấy chứ. Lại còn tấm huy chương trong sạch vững mạnh vợ trao tặng nữa.
Ngày 4/8
Lại suy nghĩ về Kiếp sống ở đây.
Vì được tin một cộng nữ phải về nước do có bầu.
Ghi vào sổ nghe thấy mẩu chuyện: Khi tất cả vì tiền.
Cuộc sống của công nhân Việt Nam ở Liên Xô là cuộc sống của kẻ lưu đày, kẻ nô lệ.
Nơi nào cũng là cảnh lao động nặng nhọc, căng thẳng, giá trị đồng lương thấp vô cùng, không tương xứng với sức lao động, không đủ tái sản xuất sức lao động, không theo thang lương tối thiểu, vì điều đó chỉ dành cho công nhân thượng quốc chứ không dành cho nô lệ kiểu mới. Nếu chỉ trông vào đồng lương thì khó có thể đủ nuôi sống bản thân. Lại còn chịu biết bao hạn chế về sinh hoạt nữa. Quyền công dân không biết có còn hay không. Bất kì người công nhân thượng quốc tầm thường nhất nào cũng có quyền mắng chửi, quát nạt những thiếu tá, đại uý đã từng là anh hùng nhân loại vừa giáng cho chủ nghĩa đế quốc Mĩ những đòn méo mặt. Hàng hoá thiết yếu thì rất hiếm, hiếm đến mức như không có (chứ đâu phải quả lừa hàng hoá dạt dào như không khí theo giọng điệu của mấy thằng chuyên xui con người ta ăn cứt gà sát). Ai đó chịu khó đi truy lùng một cách ráo riết may ra cũng gặp hàng, nhưng có khi người bán hàng lại chẳng chịu bán cho vì đã có kế hoạch phân phối, hoặc trắng trợn hơn là không bán cho bọn ngoại tộc.
Mà tiên đề mọi cộng quân sang đây là vì cái gì? Vì kinh tế, tức là vì tiền.
Mà cái xã hội vì tiền thì chỉ tôn thờ tiền, chỉ tiền mới là giá trị tối thượng, chỉ tiền mới có quyền ngự trị con người. Mọi thứ khác đều thấp kém, vô giá trị, là thứ cấp. Những cái gì người ta có đều trở thành phương tiện để kiếm tiền hiệu quả nhất, kể cả cuộc sống, lương tâm, phẩm giá, đạo đức...
Trong xã hội ấy con người tất yếu bị sa đoạ.
Như vậy, ở đây vừa là cuộc sống bị đày đoạ, vừa là cuộc sống tự sa đoạ.
Lương đã không trông mong, kiếm tiền cách khác cũng chỉ đôi ba người làm được.
Đa số chán nản muốn về nước sớm sau khi đã biết mùi tây, mùi chủ nghĩa xã hội phát triển tiến sát sàn sạt chủ nghĩa cộng sản. Thiểu số muốn ở lại vì quyền lợi gắn liền với bạn và có thể buôn bán làm ăn được. Họ làm chỉ cốt có biên chế, tức là có quyền ở hợp pháp mà thôi. Chủ nghĩa xã hội nhìn đâu cũng thấy địch, đang có biên chế thì là đồng chí khơrasô, hết biên chế là bị trục xuất vì tư cách gần bằng phần tử tay sai đế quốc.
Có một câu chuyện đại khái như sau:
Cháu gái 18 tuổi trẻ đẹp như hoa hậu, trắng trong, thơ ngây, tinh khiết.
Chú 52 tuổi, mái tóc hoa râm nhưng còn mạnh chân khoẻ tay vì ở đây lâuđãkịp đại tu sức khoẻ.
Chú sành sỏi hàng hoá, bán mua. Tình cờ gặp cháu, dắt cháu đi làm ăn. Lãi nhiều cháu mê. Mê tiền và mê cả người dắt đi làm tiền. Chú giả vờ không biết cứ làm thinh. Hai chú cháu vẫn ngược xuôi trên các chuyến tàu. Chú có kinh nghiệm giữ an toàn trên đất người, đi tàu chỉ mua vé cupê, và mua cả 4 giường trong một buồng. Cháu nghĩ nếu không có mình thì chú nhất định vẫn thoả mãn bằng đứa khác, còn mình kè kè bên cạnh lại chịu khao khát giày vò. Chi bằng ... Thế là cháu tự nguyện hiến thân bắt chú xơi món cháu. Chú làm cao. Tí cháu có bé đâu, cháu phải khẩn khoản van xin mời mọc mãi chú mới dám phá lệ. Đầu xuôi đuôi lọt, có 1 rồi thì viết thêm bao nhiêu số không đằng sau cũng được. Tình cảm chú cháu bền chặt lắm. Lãi càng tăng thì tình cũng ngày càng tăng. Đến mức thèm tình hơn thèm tiền. Đã mấy lần chú đưa cháu đến trung tâm tư vấn sức khoẻ. Đến lần thứ 9 thì quá tháng, tây không nhận làm. Cháu đành chịu ôm cái khối tình vậy. Lấy chú thì không được vì con chú gấp đôi tuổi cháu rồi. Giá ở quê cháu phải gọi chú là ông mới tương xứng thứ bậc tôn ti trật tự. Có bầu tức là tương đương tay sai đế quốc, tức là bị trục xuất về nước.
Cháu vác bụng to về nước.
Thì chú cũng đóng thùng hàng to gửi về.
Và chú lại có những cháu mới kế ngôi.
Cháu có ngờ đâu bị sớm thế. Chú ở trong bụng cháu lì thế. Đang vừa được sướng, vừa được tiền.
Chuyện như trên đầy rẫy. Có thể gặp bất kì ở đâu và có khi gặp ở bất kì người nào.
Tiện đây tôi chép lại một bài thơ in trong tập san Đất nước số 2, nhan đề: Tâm sự anh dọn nhà đón vợ sang chơi.
Điện rằng nhận giấy anh mời
Mẹ con em sẽ sang chơi tháng này
Giật mình sét đánh ngang tai
Trước đèn ngồi tính con bài phòng thân
Nghĩ xa rồi lại nghĩ gần
Nửa lo âu nửa tần ngần mừng vui
Kế đầu tiên báo kịp thời
Các cháu tạm hoãn lên chơi dịp này
Kẻo không chạm trán cô mày
Ghen tuông là thói thường ngày nữ nhi
Chén bát nhiều giấu vợi đi
E rằng bà xã mà truy thì phiền
Cháu nào đoảng quá hay quên
Sáp môi Thái, bút chì đen kẻ mày
Lạy ông tôi ở bụi này
Khác nào Từ Hải chết ngay đứ đừ
Một nghi dăm bảy đường ngờ
Đã trót thì trét bây giờ sao đây
Lại còn chiếc tủ gương này
Bâng khuâng vài sợi tóc mây nép mình
Dám đâu lỗi hẹn với tình
Mà sao lòng vẫn linh tinh rối mù
Tưởng bây giờ là bao giờ
Dọn nhà đón vợ mệt phờ cả râu.
(Mát 27/5/1989)
Tác giả nhạo việc một cán bộ Sứ. Thơ chẳng hay nhưng nói được cảnh sa đoạ của cộng, không lại bảo một mình tôi chỉ trích chủ quan.
Tác giả là ai tôi không biết. Nhưng biết đâu biết rận là kẻ cùng chăn.
Ngày 5/8
Hôm nay Xờmu 2 thành lập đội vô chính phủ. 14 cộng bậc 2 mới toe được tách ra thành một đội lao động. Đội không có kĩ thuật viên, không có đội trưởng, đội phó phụ trách. Người bảo đảm công việc và nguyên vật liệu cũng không. Nên anh em gọi là đội vô chính phủ.
Đây là 14 kẻ lĩnh án tử hình về kinh tế.
Đức và Nam bị ra đội này.
Ngày 6/8
Trong những ngày hè tươi đẹp của sự hồi sinh sau 6 tháng ngủ đông của xứ tuyết mà lòng dạ chúng tôi u ám, ngổn ngang. Đời sống xã hội của thị dân thành Kadan này phần nào cũng ảnh hưởng đến đời sống chúng tôi. Con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội mà. Dân chúng hao phí rất nhiều thời giờ vào những việc vô bổ, mà việc vô bổ và tốn nhiều thời giờ nhất là xếp hàng.
Tôi ghi vào sổ nghe thấy mẩu chuyện: Nạn xếp hàng.
Cái truyện ngắn Xếp hàng của Azit Nêxin đã là nực cười, nhưng chưa ăn thua gì so với chuyện xếp hàng ở Liên Xô. Ở đây nó trở thành quốc hồn quốc tuý, thành nạn xã hội, nạn xếp hàng.
Mua nước Kvát ư, hãy rồng rắn xếp hàng giữa trời nắng đi. Ai khát nước muốn giải khát thì phải xếp hàng. Mua được 3 cốp nước thì có lẽ gần chết vì quá khát. Người biết điều xếp hàng từ lúc chưa khát, đến lượt mua nước thì cũngđãquá khát rồi.
Mua xà phòng tem phiếu cũng rồng rắn lên mây.
Mua vở học sinh 2 xu lại hàng km người.
Mua đồ ăn hàng ngày như rau, trứng, sữa, kem... cứ phát khiếp lên được. Ấy thế mà nhiều khi chẳng có những thứ đó để được thi gan xếp hàng nữa kia.
Nếu hên gặp thứ gì quy quý một chút thì chen nhau, tranh nhau, xô đẩy nhau cãi lộn nhau, chửi bới nhau một cách chẳng có kế hoạch hoá gì cả. Đó là những mặt hàng Sao Chổi hàng năm hoặc vài năm mới xuất hiện một lần thấp thoáng. Như băng nhạc trắng, nước gội đầu, quần áo lót phụ nữ ngoại nhập, quạt điện, bàn là, đồng hồ báo thức, khăn tắm...
Có bao nhiêu thời gian thừa dân Xôviết đều dành để xếp hàng ở các xó xỉnh hết cả. Hoặc cũng suốt ngày hết lượn tàu lượn các loại cửa hàng để được xếp hàng. Đức tính quý báu nhất của dân Xôviết là kiên trì xếp hàng giỏi vô địch thế giới. Cửa hàng to, tên kêu vang, chỉ tội hàng rỗng tuếch. Vì thế ai cũng phải cố hát lượn tàu lượn, may ra vớ được thứ Sao Chổi gì đó để bộc lộ đức tính kiên trì cao quý.
Vậy mà lại có chuyện xếp hàng ác liệt hơn nhiều. Đó là chuyện xếp hàng đi ỉa ở Mát, thủ đô của các thủ đô. Chuyện này anh Chân kể.
Tại nhà ga Kômxômôn tự dưng tôi thấy dân Nga xếp hàng thành dãy dài. Kinh nghiệm đưa tôi lên đầu hàng ngó xem Sao Chổi gì mọc. Nếu có loại hàng gì đó ưng ý thì mình cũng cố luyện tính kiên trì. Ai dè họ xếp hàng chờ... ỉa. Cái hố xí công cộng có 5-6 gian, không có cửa, bẩn ơi là bẩn,đãcó 5-6 người ngự sẵn rồi. Thế nên phải xếp hàng. Ai cũng cần, ai cũng vội, ai cũng muốn, ai biết ai mà phải nhường. Có hoạ là Lênin sống lại cũng phải xếp hàng.
Có nhà nghiên cứu cho rằng dân Liên Xô xếp hàng còn tốt hơn luyện Yôga kiểu Ấn. Cần phải có sức khoẻ để còn cho hoà bình thế giới nương tựa mà.
Ngày 8/8
Hôm nay trong sổ nghe thấy của tôi có mẩu chuyện: Chuyện gì thế.
Hôm qua tôi đi khám bệnh. Gần 9 giờ sáng xong phần thử máu và nước tiểu. Do không được phép ăn sáng nên tôi ra cửa hàng Café trước cửa hàng đồ điện ăn lót dạ. Tôi thấy dân Nga đứng thành đám đông đen đặc trước cửa hàng. Có cả sắc phục công an. Đảng Dân chủ của Enxin diễn thuyết chăng. Người càng ngày càng đông. Tôi chợt hiểu, có thể cửa hàng sắp bán của độc gì đó nên cả mừng, thầm cho mình luôn gặp vận may. Bữa ăn có trứng luộc, bánh mì, sữa chua trở nên kém ngon vì niềm vui nỗi mừng dâng lên trong lòng mỗi ngày mỗi tăng theo lượng người đang dồn đến.
Gần 10 giờ tôi rời cửa hàng Café (mà quanh năm không có cà phê bán, tứ thời chỉ quanh quẩn bán mấy loại nước xốc) để tiếp cận cửa hàng. Vẫn chưa đến giờ mở cửa. Tôi đi dạo cho đỡ sốt ruột. Một lúc lâu sau quay lại vẫn chưa đến giờ mở cửa. Đúng 10 giờ cánh cửa cửa hàng mới mở ra. Dòng người ùa vào như thác lũ. Tôi cũng nhập vào dòng người thác lũ ấy. Vẻ mặt ai nấy đều căng thẳng, hồi hộp, vội vã. Hơn 10 phút sau người mới vào vãn. Vào rồi là ba chân bốn cẳng xếp hàng bên bàn trả tiền. Tôi bắt chước anh Chân nhiều kinh nghiệm vượt lên trước ngó xem bán gì. Thì thấy chẳng có gì cả. Tôi chờ nửa giờ sau vẫn chỉ thấy chẳng có gì cả. Tôi lại đi dạo lung tung cho đỡ sốt ruột. Chờ Sao Chổi bao giờ cũng rất sốt ruột. Lúc quay lại vẫn thấy chẳng có gì cả ngoài số người đã vơi đi một phần. Cuối cùng người ta tản đi hết làm chết mất một con rồng rắn lên mây. Tôi ném ra mấy câu chửi đổng, chợt nhớ chửi bằng tiếng ta thì tây hiểu làm sao được, nỗi bực vì thế làm sao vơi đi được, tôi bèn “khui, bờlẹt, pidờđa” ầm ĩ một hồi. Dân Nga vào sau cứ nhìn tôi như người ngoài hành tinh, rồi ai nấy nhún vai, lắc đầu, xoè tay mặc kệ tôi vung vãi mớ tiếng Nga tục tĩu ra đó muốn dính vào ai thì dính.
Nếu ai hỏi ở Liên Xô bạn sợ điều gì nhất?
Tôi trả lời sợ xếp hàng nhất.
Nếu ai hỏi ở Liên Xô bạn khâm phục điều gì nhất?
Tôi trả lời phục tính kiên trì xếp hàng của dân Liên Xô nhất.
(Còn nữa)