Tin tức  |  Diễn đàn  |  Thư viện hình  |  Liên hệ
Thứ ba,
09.08.2022 07:07 GMT+7
 
 
Kho bài viết
Tháng Tám 2022
T2T3T4T5T6T7CN
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30 31        
 <  > 
Nhận thư điện tử
Email của bạn

Định dạng

Thành viên online
Thành viên: 0
Khách: 3
Số truy cập: 1554424
Tin tức > Nghiên cứu-Phê bình-Chân dung > Xem nội dung bản tin
Nhớ nhà văn Mạc Phi
[07.08.2007 00:32]
(Chân dung văn học)

Châu Hồng Thủy


Chưa bao giờ tôi có dịp hỏi vì sao ông lại lấy bút danh là Mạc Phi. Có lần, trong lúc cao hứng, anh em Hội Văn nghệ Sơn La chúng tôi ngồi đoán mò ý nghĩa bút danh của nhà văn. Ông gốc người Hoa, nên bút danh ấy ắt hẳn phải là từ Hán Việt.

Mạc Phi, hai từ ấy đều có nghĩa là "không" hoặc "chẳng"... Phải chăng ông lấy tên Mạc Phi (không không) bắt nguồn từ quan niệm "sắc sắc không không" của nhà Phật? Nhà thơ Xuân Đài lúc ấy đã dịch đùa tên ông thành "chẳng chẳng"

Trong tiếng Hán còn có từ "Mạc" nữa (sa mạc), mang ý nghĩa : bãi cát mênh mông. Từ "Phi" nghĩa là "bay". Bay giữa mênh mông chăng? Không phải. "Mạc mạc" lại là "im lặng"... Phải chăng Mạc Phi muốn ví mình là người "lặng im không nói" ? Có lẽ "không không" và "lặng im không nói" phù hợp với tính cách của ông hơn. Sinh thời, ông nói nhiều bằng ánh mắt. Ánh mắt biết cười, tinh nghịch, hóm hỉnh và nhân hậu. Trước mắt tôi, giờ đây, ông hiện lên với vóc dáng cao gầy, lịch lãm, hào hoa, nét miệng luôn cười tủm tỉm, giọng nói điềm đạm, nhẹ nhàng. Dưới cằm ông có một nốt ruồi to, đen. Chúng tôi vẫn bảo nhau đó là nốt ruồi "Mao Trạch Đông".

Đọc bài thơ cuối cùng ông viết trước khi từ giã cõi đời (viết ngày 12.5-1996), càng thấy suy luận của chúng tôi ngày ấy về bút danh của ông là có lý:

Nghiệp chướng theo nhau mãi mãi rồi
Tử sinh cùng một nhẽ đó thôi
Sắc sắc đó mà không không đó
Đầy trời hoa nở, lá thơm rơi
(Vô đề)

Cuộc đời Mạc Phi là một chiếc "Lá Thơm". Nhà văn Sơn Tùng bảo "Lá Thơm rơi về cội. Hương Mạc Phi vẫn còn thơm mãi ở Cây Đời"

Tôi ít được gặp gỡ nhà văn Mạc Phi. Nhà ông ở tận thị xã Lai Châu. Tôi ở Sơn La. Lúc gặp ông, ông đã ngoài 50 và là nhà văn đã lừng danh. Còn tôi, mới chỉ là anh chàng sinh viên mới ra trường, in được vài bài thơ và đang tập tọng viết văn xuôi. Tôi coi ông như một người thầy. Tình yêu Văn học dân gian Thái trong tôi được hình thành có phần đóng góp vô hình qua bản dịch "Xống chụ xon xao" (Tiễn dặn người yêu) tuyệt vời của ông.

Ở Trường Cao đẳng Sư phạm Tây Bắc, khi dạy chương Văn học miền núi, tôi tự chọn "Xống chụ xon xao" để giảng. Tôi học tiếng Thái qua bản dịch của ông, đối chiếu với bản tiếng Thái la tinh (cũng do ông phiên âm) với niềm say mê hứng khởi. "Rừng động" của ông, tôi cũng đọc với tâm thế say mê ấy. Văn ông viết như thơ. Không sống thấm đẫm trong khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ và thơ mộng vùng Tây Bắc, trong những đêm sinh hoạt dân ca Thái, không am hiểu tường tận ngôn ngữ, tâm hồn, tính cách người miền núi, không thể có "Rừng động" tuyệt vời đến thế. Yêu và lấy một cô gái Thái, ông đã gắn bó gần trọn cuộc đời với núi rừng Tây Bắc. Có lần ông kể với tôi, khi viết thư cho người yêu (bà Nhụt - vợ ông bây giờ), ông đã viết bằng chữ Thái.

Tháng 3/1984, tôi lên công tác Lai Châu, Phương Liên Hà Dũng Tiến dẫn tôi đến thăm ông. Hình như giữa ông và chúng tôi không hề có sự cách biệt, mặc dù ông là nhà văn tên tuổi. Ông trò chuyện thân tình, giản dị, khiêm nhường. Khi hoàn thành đợt nghiên cứu Văn học dân gian dân tộc Mảng ở Sìn Hồ trở về, tôi lại ghé thăm ông lần nữa, đưa cho ông mấy bài thơ vừa viết trong chuyến đi thực tế. Ông tiễn tôi ra tận bến xe thị xã. Tháng 3, gió Lào nóng bỏng. Bến xe nhếch nhác, người ta xếp hàng rồng rắn, chen huých nhau mua vé. Tôi có giấy ưu tiên, mua được ngay. Một chị phụ nữ bế con nằm chầu chực đã hai ngày ở trên ghế gỗ ngoài bến xe, vẫn không mua được vé. Nỗi bực tức chị trút hết vào đứa trẻ. Chị đánh con. Đứa bé khóc váng cả bến xe. Rồi chị cũng khóc, kể lể nỗi niềm. Đang trò chuyện với tôi, chợt ông im lặng, mắt đau đáu nỗi buồn. Ánh mắt của một người nhìn thập loại chúng sinh đau khổ, mà bất lực không thể nào cứu giúp. Cho đến giờ, ánh mắt ấy còn ám ảnh mãi trong tôi.

Từ Lai Châu, ông gửi cho tôi số tạp chí Văn nghệ mới nhất có in hai bài thơ của tôi kèm theo một lá thư. Ông bảo bài "Trận đấu không khán giả" của t ôi, ông đã cắt đi một chỗ thừa. Bị cắt thơ, không những tôi không bực, mà còn chắp tay bái phục ông. Mạc Phi khen thơ tôi cấu tứ chặt chẽ, chất tình nồng hậu. Ông nhắc tôi thường xuyên gửi bài cho Văn nghệ Lai Châu. Việc trao đổi thư từ với các cộng tác viên thường do anh em trong ban biên tập, trị sự đảm nhiệm. Một nhà văn lớn như ông dành thời giờ viết thư động viên khiến tôi phấn khởi vì sự ưu ái của ông. Trên đà phấn khởi ấy, tôi viết một mạch xong bài tiểu luận chống quân bành trướng gửi ông. Nghĩ rằng Lai Châu là tỉnh tuyến đầu, có nhiều điểm chốt nóng bỏng của cuộc chiến tranh biên giới lúc bấy giờ, bài của tôi sẽ được hoan nghênh nhiệt liệt. Tôi đã lầm.

Trước đó, mấy anh ở Sở Văn hóa Sơn La sưu tầm ở đâu đó được một tập "Truyện cổ", kể về những cuộc xâm lược của các loại giặc Trung Quốc tràn vào Tây Bắc, rủ tôi cùng tham gia biên soạn. Chúng tôi đã "thêm mắm thêm muối" cho các câu chuyện thêm phong phú, sinh động, tăng phần sức mạnh tố cáo tội ác của giặc. Chửi kẻ địch, được phép tha hồ. Tập sách được ưu tiên, ra ngay trong vòng một tháng. Thời ấy, người ta còn nghiên cứu cả tư tưởng bành trướng trong Kinh Thi - một tập thơ ca dân gian tối cổ của Trung Quốc. Trong bài tiểu luận của tôi, tôi so sánh cách trả thù của nàng Kiều của Nguyễn Du, với nàng Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân, rồi trích cả lời của Lỗ Tấn trong "Nhật ký người điên" để chứng minh tính cách người Trung Hoa là tàn bạo, lịch sử Trung Quốc là lích sử "bốn ngàn năm ăn thịt người". Phương Liên từ Hội Văn nghệ Lai Châu về qua Sơn La, rẽ vào chỗ tôi nghỉ lại một đêm. Anh bảo: "Cụ Mạc Phi nhờ tớ trao đổi lại với cậu bằng miệng, chứ không viết thư. Cụ bảo, người viết tiểu luận phải thật bình tĩnh, khách quan, chứ đừng xuất phát từ định kiến có sẵn rồi cố gò, cố tìm các chi tiết gán ghép vào các định kiến ấy. Không nên viết vội vã bởi những kích thích ồn ào trên đài, báo. Nếu Thủy nghiên cứu kỹ nền văn hóa Trung Hoa, chắc sẽ không viết thế. Đánh giá tính cách, lịch sử của một dân tộc, càng phải nên thận trọng. "

Giờ đây, tôi thầm cảm ơn Mạc Phi. Nếu hồi ấy ông cho in tiểu luận của tôi, chắc giờ đọc lại, tôi sẽ ngượng với chính mình. Ông đã dạy tôi một bài học sâu sắc về nhân cách của người cầm bút.

Cuối năm 1984, với cương vị Chủ tịch Hội Văn nghệ Lai Châu, ông dẫn đoàn đại biểu xuống dự Đại hội thành lập Hội Văn nghệ Sơn La. Chuyến đi ấy, niềm vui của ông được nhân đôi. Đại hội vừa khai mạc thì tiểu thuyết "Rừng động"của ông được tái bản. Quốc doanh phát hành sách Sơn La mang sách đến bán ngay trước Hội trường Tỉnh ủy phục vụ Đại Hội. Nhà văn bỏ tiền ra mua đứa con tình thần của mình.

Đứng chọn sách cùng ông, tôi thấy ánh mắt ông ánh lên niềm vui, khó diễn tả thành lời. Buổi tối, trong nhà khách của Ủy ban nhân dân tỉnh, bọn trẻ chúng tôi quây quần nghe ông tâm sự quá trình thai nghén "Rừng động" của mình. Đề tài đã ấp ủ từ lâu, nhưng về Hà Nội đã bốn năm, không thể nào viết nổi, ông lại xin Hội Nhà văn cho trở về Tây Bắc (1972). Được tắm mình trong cảnh vật, con người, quê hương ruột thịt thứ hai của mình, ông đã hoàn thành "Rừng động". Đó là đứa con tinh thần lớn nhất, chứa đựng tất cả sức lực, tinh hoa của đời ông. Ông kể một cách giản dị, không một lời giáo huấn về nghề nhưng để lại trong tôi niềm cảm phục một nhà văn sinh tử vì nghề, tất cả phụng sự cho nghệ thuật. Mạc Phi dám từ bỏ phố phường Hà Nội phồn hoa lên miền Tây vời vợi nghìn trùng, học tiếng Thái, lấy một cô gái Thái, làm cho độc giả cả nước biết đến dân tộc Thái có những áng thơ tuyệt diệu và khẳng định vị trí sừng sững trên văn đàn của mình bằng "Rừng động". Mỗi nhà văn phải có một quê hương. Quê hương ấy sẽ nuôi dưỡng tâm hồn anh, vui đắp tài năng của anh. Bài học ấy tôi không đọc được từ trong sách, mà bằng chính cuộc đời sống động của Mạc Phi. Ông còn truyền cho chúng tôi nhiều bài học trong chuyện bếp núc của văn chương. Khi Hội Nhà văn Việt Nam mở trại sáng tác cho anh em viết sáu tỉnh biên giới phía Bắc đầu năm 1985 tại Mộc Châu, ông và nhà văn Hoàng Thao đứng ra phụ trách. Cùng với giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh, nhà văn Nguyễn Thành Long, nhà thơ Hữu Thỉnh, nhà thơ Ngô Văn Phú... ông tham gia giảng bài và trực tiếp giúp chúng tôi hoàn thành bản thảo. "Tình yêu của Vạt" là truyện ngắn đầu tiên của tôi được đăng trên báo Văn nghệ tháng 8-1985, thấm đẫm chất thơ, cũng bởi nhờ nghiên cứu văn học dân gian Thái, và cũng bởi ảnh hưởng chất văn của hai người thầy mà tôi hằng ngưỡng mộ: Mạc Phi và Nguyễn Thành Long. Lúc ấy, tôi đã mơ mình sẽ trở thành Mạc Phi thứ hai của núi rừng Tây Bắc.


Sau Đại hội thành lập Hội Văn nghệ Sơn La, tôi theo nhà văn Mạc Phi cùng các nhà thơ Cầm Biêu, Lò Văn Cậy, Vương Trung về bản Bon Phặng (Thuận Châu) dự lễ cưới của đôi vợ chồng người Thái. Bố mẹ họ là những người quen thân của các ông ngày trước.
Đi theo các bậc trưởng lão của làng văn Tây Bắc, tôi, chàng trai trẻ, nghiễm nhiên được xếp vào vị trí danh dự.

Tiệc cưới đã bước vào Hát đối. Tôi không biết hát, chỉ ngồi nghe. Mà nghe cũng chưa thủng lắm. Một người đàn ông từ mâm rượu giữa sàn bước đến hát "chào khách". Cánh nhà văn thoáng giật mình. Mạc Phi nhìn vẻ mặt ngơ ngác của tôi, biết tôi chưa hiểu, ông liền dịch nhỏ:
Họ hát thế này:
Bấy lâu chẳng thấy rồng đến chơi nhà
Chẳng biết nên chào hay nên trốn?
Chào không được, trốn cũng không xong.

Tôi thắc mắc:
- Sao họ hát "ác" thế?
- Họ hát trách đấy. Nhưng trách yêu thôi. Ông bảo - trong dân ca Thái có loại hát gọi là "Tản chụ xiết xương". Dịch là "Tiếng hát tâm tình" cũng chưa lột tả hết được. "Xiết" nghĩa là: nói móc, mói cạnh khóe... "Xiết xương": vừa yêu thương, vừa cạnh khóe trách móc. Họ trách chúng tôi đã quên họ. Hồi chiến tranh chống Mỹ, các cơ quan của Khu tự trị sơ tán về đây. Họ cùng chúng tôi chia ngọt xẻ bùi, cùng ăn củ mài, măng đắng. Hòa bình đã hơn chục năm rồi. Vậy mà...

Ông bỏ giữa chừng câu nói. Nhưng tôi hiểu. Cuộc sống hàng ngày có bao nhiêu việc cuốn hút ta. Có lúc nào ta chợt nhớ tới người quen cũ? Hay bớt chút thời gian trở lại thăm những người đã từng cưu mang đùm bọc ta thời gian khổ? Ta nợ ơn nợ nghĩa trong đời nhiều lắm, biết bao giờ trả được?

Hát trách thế thôi. Đồng bào Thái hồn nhiên, hiếu khách. Họ có đòi đền ơn đâu. Khách đến chơi nhà, mừng lắm, hát "ác" làm gì? Hát trách, tỏ vẻ giận hờn tí chút để bộc lộ yêu thương, nhớ nhung. Với tài ứng đối lão luyện, nhà thơ Cầm Biêu, Lò Văn Cậy đã chinh phục mọi người bằng lời "khắp" (hát). Họ ôn lại những ngày cùng nhau gian khổ, đằm thắm nghĩa tình. Mọi người trong tiệc cưới cùng hát đệm "Hà ôi...". vào cuối những lời ca của nhà thơ Lò Văn Cậy, Cầm Biêu. Rồi chủ khách cùng nâng chén uống rượu mừng nhau.

Mạc Phi không hát. Ông chỉ ngồi nghe. Tưởng như ông đang chìm đắm vào một cõi xa xôi nào đó. Cũng có thể lúc ấy ông thả hồn theo lời hát, hay suy tưởng về những ngày trai trẻ đi sưu tầm dân ca Thái bên bếp lửa nhà sàn. Không có những buổi sinh hoạt "hát thơ", có lẽ đời sống văn hóa tinh thần của người miền núi sẽ nghèo nàn, buồn tẻ biết bao.

Rồi tôi mời ông rẽ vào trường Cao đẳng Sư phạm của tôi nghỉ lại, lấy sức mai vượt dãy Pha Đin. Nào ông có được nghỉ ngơi. Nghe tin ông đến, anh em trong tổ Văn của tôi kéo đến tiếp ông. Khách đến nhà, dứt khoát phải mở tiệc rượu đón mừng. Mấy ngày ròng rã dự hội nghị, lại rượu trong tiệc cưới, vậy mà ông vẫn khỏe khoắn, tỉnh táo trò chuyện với anh em giáo viên văn trường tôi tới tận khuya. Ông uống không nhiều. Chúng tôi cũng không dám ép như cánh trẻ vẫn chuốc nhau. Ông uống chầm chậm như để thưởng thức mùi hương dìu dịu của rượu nếp, thứ rượu mà vợ tôi thường tự tay nấu lấy để tiếp khách của chồng.

Nhân kể về quá khứ, ông nhắc đến một chuyện "vui". Vâng, ông nói là chuyện "vui", nhưng chúng tôi thấy bùi ngùi. Hồi ấy, ông công tác tại Phòng văn hóa của Khu tự trị Tây Bắc, đóng ở Thuận Châu, nơi chúng tôi đang ngồi trò chuyện cùng ông bây giờ. Có cán bộ cấp trên tuyên truyền rằng ở Trung Quốc xã hội chủ nghĩa anh em, người ta làm nông nghiệp giỏi lắm. Có giống lúa tốt đến mức trải chiếu cho trẻ con nằm lên mà lúa không đổ. Ông tỏ ý nghi ngờ, phản bác lại. Thế là sáng hôm sau, ông nhận được lệnh phải "cải tạo tư tưởng", mỗi ngày phải gánh một gánh phân bón cho lúa. Biết cãi lại thế nào? Đành phải phục tùng thôi. Cả đời quen cầm bút, giờ nhà văn gánh rát bỏng vai. Vị trưởng bản thương "cái ông nhà văn thư sinh", bảo Mạc Phi cứ sáng sáng mang quang gánh đến nhà ông cho mọi người trông thấy, rồi ngồi uống nước, ông sai con gánh hộ. Chuyện "vui" của ông là thế. Và cũng chỉ một lần duy nhất, Mạc Phi kể cho chúng tôi nghe chuyện ấy. Không thấy ông nhắc đến trong hồi ký, hoặc trong bất cứ tác phẩm nào của mình. Nghe ông kể, tôi biết ơn vị trưởng bản nhân ái kia biết quý trọng văn nghệ sĩ. Chắc gì ông đã được đọc các tác phẩm của Mạc Phi. Nhưng cứ nghe danh hiệu nhà văn là ông đã nể trọng rồi. Cứ suy từ tôi ra là biết. Xách túi thổ cẩm theo nhà thơ Lò Văn Cậy đi thực tế huyện Sông Mã, một huyện biên giới Việt Lào, dân bản đón tiếp như thượng khách. Nghe tin các "nhà văn của tỉnh" đến, bà con "bắt" lên nhà uống rượu, "hát thơ". Buổi tối, rẽ vào một nhà ở ven đường nghỉ lại. Vừa bước lên sàn, chủ nhà đã rót rượu mời thay nước, rồi sai con vác ngay tên nỏ "kiếm cái gì đó về đãi khách".

* * *

Anh bạn Phương Liên Hà Dũng Tiến của tôi dạy văn ở Trường Sư phạm 1 Lai Châu là người có lắm biệt tài: Làm thơ, viết truyện, sáng tác nhạc, lại là ca sĩ có giọng hát vàng. Tài đi liền với tật. Cá tính của Phương Liên khá mạnh. Ở trường Sư phạm, người ta khó chấp nhận một nhà giáo nghệ sĩ quá phóng túng như anh. Người ta định đem anh ra kỷ luật. Đã từng làm Chính trị viên đoàn văn công Tổng cục chính trị, phụ trách phòng Văn nghệ Tây Bắc, Hiệu trưởng trường Văn hóa nghệ thuật Khu tự trị, dày kinh nghiệm làm việc với Văn nghệ sĩ, Mạc Phi đã tìm cách kéo Phương Liên về Hội văn nghệ. Ông biết dụng người tài; cá tính của từng người, ông chấp nhận. Các anh Nam Sơn, Tri Tâm, Cảnh Luận, Thạch Linh, Phương Liên... may mắn hơn tôi, được ở gần ông, được chỉ bảo từ chuyện viết lách, đến công tác biên tập, in ấn, phát hành... Phương liên ngông nghênh ở đâu không biết, chứ với Mạc Phi, lúc nào cũng kính cẩn thưa thầy. Không phải chỉ vì ông có công "cứu nguy" cho Phương Liên, mà là vì thực sự ông là thầy của chúng tôi cả nghề văn, cả về nhân cách. Đã đến lúc có thể khẳng định, ông là nhà văn lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại.

* * *
Trước khi sang Nga du học, tôi tìm đến xóm Hồng, xã Khương Đình thăm ông. Năm 1988, ông đã về Hà Nội. Gia đình ông đã có được ngôi nhà xây có gác hai nho nhỏ, nhưng chắc đời sống vẫn còn chật vật. Bác gái vẫn phải quấn thuốc lá để thêm thu nhập. Tôi có thủ theo người một bao Bông Sen định để mời ông, thì ông lại mời tôi thuốc cuốn, ông bảo đậm hơn. Ông quen hút loại thuốc "của nhà trồng được". Tôi nhớ hình như hồi ở Tây Bắc, những lần ông đi công tác, trong túi luôn có loại thuốc này. Hút điếu nào quấn điếu ấy, có cái thú riêng khi vê vê điếu thuốc. Giữa chiều hè Hà Nội, chúng tôi ngồi ôn lại những kỷ niệm Tây Bắc. Nơi ấy ông đã gắn bó gần trọn cuộc đời. Còn tôi cũng đã gửi cả tuổi thanh xuân của mình. Trong lúc chúng tôi trò chuyện, bác gái lặng lẽ đun nước pha trà, xong rồi lại lặng lẽ ngồi quấn thuốc. Đó là nếp quen điển hình của người phụ nữ dân tộc Thái: Kính trọng chồng, lặng lẽ phục vụ chồng và khách của chồng. Nhìn bác gái, trong tôi dấy lên niềm thương cảm: Liệu bác có quen được đời sống thị thành? Ngay như tôi là người miền xuôi, lên công tác Tây Bắc, mỗi năm về phép một lần, xe cứ về đến thị xã Hà Đông là đã thấy bức bối trong người bởi tiếng ồn xe cộ, bởi phố phường chật chội. Còn bác, cả đời quen với núi rừng yên tĩnh, sống với ban mai sông suối trong lành, gần gũi họ hàng ruột thịt, nói chuyện với nhau bằng tiếng Thái, giờ về Hà Nội, chắc là khó hợp. Có lẽ vì thế mà nhà văn chọn xóm Hồng, gần đồng ruộng để làm nhà, tránh cho bà khỏi sự căng thẳng náo động của đời sống thị thành. Người đàn bà ấy suốt đời chăm chút cho nhà văn dồn tâm huyết làm nghệ thuật. Những trang thơ trữ tình "Xống chụ xon xao" chắc rằng có phần công sức không nhỏ của bà, giúp ông hiểu cặn kẽ những sắc thái uyển chuyển, sâu sắc của câu thơ. Tôi gọi bà bằng "Ếm pả" (bác gái), thỉnh thoảng quay sang hỏi chuyện bà bằng tiếng Thái, để gợi nhớ về quê hương Tây Bắc. Có thể bây giờ bà chẳng nhớ nổi tôi là ai, vì khách văn của ông có quá nhiều, bà ít khi xen vào cuộc trò chuyện của chúng tôi. Từ cuộc gặp gỡ cuối cùng ấy, tôi xa ông bà đã gần hai chục năm rồi.

Đọc Văn nghệ từ trong nước gửi sang, tôi biết ông đã đi vào cõi vĩnh hằng. Tôi ân hận chưa thực hiện được ước mơ trở thành Mạc Phi thứ hai cùa núi rừng Tây Bắc. Số phận đã đưa tôi sang bước ngoặt. Xa đất nước, những công trình nghiên cứu văn học dân gian Thái của tôi còn bỏ dở. Cuốn tiểu thuyết về đất nước con người Tây Bắc mới chỉ dừng trong ý tưởng. Nhưng cuộc đời hy sinh vì nghệ thuật, lòng nhân ái cao thượng của người thầy sẽ mãi mãi là tấm gương cho tôi trong cuộc đời cầm bút. Kính thưa thầy - người học trò nhỏ từ nước Nga xa xôi xin dâng một nén nhang tưởng nhớ đến Người. Và thưa "Ếm pả" - xin chia sẻ nỗi đau mất mát của "Ếm pả" cùng họ hàng thân tộc bằng những dòng hồi ức của một người tự nhận là "đồng hương Tây Bắc", nhớ về nhà văn lớn: Mạc Phi.

Matxcơva 9/6/1996
C.H.T
In lần đầu trên Tạp chí Người Bạn Đường số 8, Matxcơva, năm 1996
Nguyên An (Theo Tạp chí Người Bạn Đường số 8-1996)
 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email



Những bản tin khác:



Lên đầu trang
Các bản tin mới đăng
Nguyễn Trọng Oánh - Hồi ký của Nguyên Ngọc
Chùm thơ Lê Tuyết Lan (Tiền Giang)
Truyện ngắn và tản văn của Nguyễn Thị Liên Tâm
TỪ BIỂN LÊN RỪNG - Bút ký của Ngô Xuân Huệ
Chùm thơ xuân của Trần Ngọc Ánh
Chùm thơ Đặng Hữu Trung
Thơ Dương Thuấn - song ngữ Tày Việt - P 3
Tập thơ "Tình ca Thiếu Khanh" - Phần 2
THƠ DƯƠNG THUẤN - (song ngữ Tày - Việt) P 2
Tập thơ “Tình ca Thiếu Khanh” - Phần 1
Tin cùng chủ đề
Lặng lẽ Nguyễn Thành Long
Hoàng Đức Lương - Quan niệm thi học và thơ
Nguyễn Bảo Sinh-nhà thơ dân gian có chất “Bút Tre”
Lần theo mối tình Chí Phèo - Thị Nở
Tượng đài người lính Điện Biên (qua bài thơ “Giá từng thước đất” của Chính Hữu)
Nhà thơ Việt Phương: “Nhân chi sơ, tính…phức tạp”
Trí khôn nhà văn ở đâu?
CHÂU HỒNG THUỶ: Nếu tôi là Puskin
Một người Việt làm thơ bằng tiếng Nga
Phê bình văn học - Trường hợp Trương Tửu
 
 
 
Thư viện hình